Theo Phó thủ tướng Phan Văn Giang, tỉnh Đồng Nai hiện hành đáp ứng cả 7 tiêu chuẩn để trở thành thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có những tiêu chí rất quan trọng như thu nhập, dân số, diện tích và vị trí địa lý.
Đặc biệt về vị trí, tỉnh Đồng Nai (cũ) không có biên giới, nhưng sau khi sáp nhập thì tỉnh Đồng Nai (mới) gồm cả phần kết nối với Bình Phước, tạo nên những vị trí rất đắc địa, nhất là với lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Đại tướng Phan Văn Giang dẫn chứng là khu vực Lộc Ninh (Bình Phước) từng là nơi giải phóng đầu tiên ở miền Nam. Đây là địa chỉ tập kết nhân tài, vật lực và vũ khí trang bị để chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Cùng với đó, Đồng Nai còn có sân bay Long Thành. Trước đây, sân bay Long Thành được tính toán đến yếu tố lưỡng dụng. Tuy nhiên, hiện nay, sân bay Biên Hòa được dành nguồn lực để phát huy vai trò này.
Vẫn theo đại tướng, Đồng Nai có khu cư xá Long Bình rất lớn, cùng với hồ Trị An… tạo nên thế trận phòng thủ vững chắc.
Song song với quốc phòng, an ninh, Đồng Nai còn có lợi thế rất lớn về kinh tế. Cùng với Bình Dương cũ (nay là TP.HCM), 2 địa phương phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất, từ đó tạo công ăn việc làm cho người dân từ miền Tây vốn chỉ làm nông nghiệp đã di cư tới vùng này.
Với những yếu tố trên, đại tướng Phan Văn Giang cho rằng Đồng Nai đã đủ điều kiện trở thành thành phố, rất mong các đại biểu ủng hộ.
Ông nhấn mạnh, nếu Quốc hội thông qua, Đồng Nai sẽ là thành phố thứ 7 trực thuộc trung ương sau Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế.
Mới đây, Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương. Vì vậy, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương trước sẽ là động lực, kinh nghiệm cho sau này.
Cần “chiếc áo mới” đặc biệt cho Đồng Nai
Đại biểu Nguyễn Trung Kiên (đoàn Đồng Nai), Phó giám đốc Học viện An ninh nhân dân, nhấn mạnh, Đồng Nai là tỉnh lớn có diện tích hơn 12.000 km2 với dân số hơn 4,6 triệu người, có 89 khu công nghiệp được quy hoạch, trong đó 50 khu công nghiệp đang hoạt động với hàng chục nghìn doanh nghiệp, cung cấp việc làm cho hàng triệu người lao động.
Thu ngân sách nhà nước năm 2025 của Đồng Nai đạt gần 110.000 tỉ đồng, đứng thứ 4 toàn quốc chỉ sau TP.HCM, Hà Nội và Hải Phòng.
Cạnh đó, lợi thế lớn của Đồng Nai là trung tâm kết nối vùng giữa TP.HCM, Tây Nam bộ với Tây nguyên, Nam Trung bộ. Nơi đây hội tụ đầy đủ các loại hình giao thông, trong đó sân bay Long Thành tầm cỡ khu vực và thế giới, khi đưa vào hoạt động sẽ là trung tâm logistics vận chuyển hàng hóa, khách quốc tế đến Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Đồng Nai cũng là điểm kết nối nhiều tuyến đường cao tốc, nhiều tuyến quốc lộ, có kết nối đường bộ Quốc tế với Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, cửa khẩu Hoàng Diệu dọc tuyến quốc lộ 13, có hệ thống đường thủy với nhiều sông lớn, thuận tiện giao thông thủy nội địa và ra biển…
Với những lợi thế trên, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương là hoàn toàn hợp lý, qua đó tạo thêm động lực, khí thế để địa phương đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong nhiệm kỳ này và những năm tới.
Bên cạnh việc thành lập thành phố, ông Kiên cũng đề nghị Quốc hội có nghị quyết giao cho thành phố Đồng Nai một số cơ chế đặc thù để có thể phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, văn hóa, môi trường, y tế, giáo dục, quy hoạch đô thị, thu hút đầu tư…
Đồng quan điểm, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) cho rằng, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương là rất tốt, nhưng tương lai phát triển ra sao cũng là vấn đề rất quan trọng.
Ông kiến nghị phải có các cơ chế đặc thù để thành phố phát triển mạnh mẽ. Nghị quyết cần quy định bên cạnh những chính sách hiện hành áp dụng với tỉnh Đồng Nai thì cần xây dựng thêm các cơ chế đột phá trong thời gian tới, cần một “chiếc áo mới” đặc biệt hơn nữa cho thành phố trong tương lai.
Ngày 17.4, Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết đã gửi thông tin, báo cáo Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an) về vụ tai nạn khiến nam sinh lớp 12 tử vong trên quốc lộ 29.
Theo đó, vào khoảng 11 giờ 29 ngày 15.4, trên quốc lộ 29, đoạn qua xã Cư Pơng (Đắk Lắk) xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng.
Nạn nhân được xác định là cháu V.Đ.Q (18 tuổi, ở xã Cư Pơng), điều khiển xe máy biển số 47AB - 325.78 lưu thông trên quốc lộ 29, theo hướng từ quốc lộ 14 đi xã Ea Kiết (Đắk Lắk).
Khi đến địa điểm trên, xe máy lao xuống mương thoát nước ở bên trái theo hướng ngược lại, V.Đ.Q tử vong tại bệnh viện.
Sau vụ việc, lãnh đạo Công an tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk khẩn trương tiến hành điều tra, xác minh theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức thăm hỏi, động viên gia đình có nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông. Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk thụ lý điều tra, xác minh theo quy định của pháp luật.
Đáng chú ý, khi có kết quả Công an tỉnh Đắk Lắk sẽ tổ chức họp báo công khai về kết quả điều tra, xác minh để thông báo rộng rãi đến các cơ quan thông tấn báo chí và quần chúng nhân dân.
Như Thanh Niên đã thông tin, ngày 15.4, vụ tai nạn khiến nam sinh lớp 12 tử vong đã được ghi lại bởi camera an ninh của người dân và được đăng tải lên mạng xã hội. Theo nội dung clip, nam sinh điều khiển xe máy chạy với tốc độ cao, lao xuống mương nước.
Theo hình ảnh clip ghi lại, vào thời điểm xảy ra vụ việc, có một chiếc xe mô tô chạy phía sau xe nam sinh lớp 12 nói trên, đã quay đầu rời khỏi hiện trường và 1 người đàn ông khác lái xe máy chạy ở chiều ngược lại cũng không dừng phương tiện ứng cứu nạn nhân.
Tết năm nay, căn nhà của cụ Phạm Văn Phất ở thôn Đa Phạn, xã Vạn Lộc (xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) đông đủ con cháu. Trong những tiếng cười và chúc tụng, cụ vẫn nói mong ước lớn nhất của cả cuộc đời vẫn là tìm được gia đình ruột thịt. "Tôi mong trước khi nhắm mắt xuôi tay, biết được mình còn ai thân thích để thắp nén hương cho tổ tiên", cụ Phất nói.
Năm 1945, cậu bé Phạm Văn Phất, 15 tuổi, theo cha - một thợ sửa đồng hồ - rời làng Tùng Sáu (huyện Hải Hậu, Nam Định cũ, nay là xã Hải Thịnh, Ninh Bình) vào Thanh Hóa mưu sinh. Trong ký ức, đó là những chuyến đi dài bằng đường biển, ghé qua các làng chài, ở lại một thời gian rồi lại tiếp tục rong ruổi.
Hai cha con dừng chân tại làng Đa Phạn, ở nhờ một gia đình người địa phương. Sau vài lần đưa con về quê rồi quay lại, đến lần thứ ba vào Thanh Hóa, người cha quyết định gửi con trai lại cho gia đình chủ nhà nuôi dưỡng rồi một mình lên thuyền về quê. Đó là lần cuối hai cha con gặp nhau.
"Tôi đứng trên đê nhìn theo thuyền cha khuất dần về phía biển. Tôi nghĩ ông sẽ sớm quay lại nhưng từ đó bặt vô âm tín", cụ Phất kể.
Những ngày sau đó, cậu thiếu niên 15 tuổi vẫn đi ra bến thuyền, chờ đợi trong vô vọng. Không có tin tức, không một lời nhắn gửi. Giữa những năm tháng biến động của lịch sử đất nước, cậu thiếu niên 15 tuổi khi ấy tự suy đoán cha có thể gặp nạn trên biển hoặc hỏng thuyền. Phất ở lại vùng đất Hậu Lộc, được gia đình chủ nhận nuôi và đổi sang họ Phạm.
Hơn 80 năm qua, hành trình tìm lại cội nguồn của cụ Phất là một chuỗi những hy vọng, có lúc nhen nhóm nhưng rồi lụi tàn theo thời gian. Điều khiến ký ức về quê hương không bị phai mờ là bởi khi xa quê, cụ đã đủ lớn để ghi nhớ tên đất, tên làng.
Trong trí nhớ, quê nhà là làng Tùng Sáu với con đê chạy dài tít tắp, xen kẽ là cồn cát nhấp nhô, những căn nhà thưa thớt dưới rặng phi lao. Cuối làng có một chiếc cống ngăn mặn. Cụ còn nhớ lớp học chữ quốc ngữ của một ông đồ nho và căn nhà nhỏ mái tranh nơi gia đình sinh sống.
Năm 30 tuổi, khi đã lập gia đình và dù hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, cụ từng một mình lần tìm về quê theo trí nhớ. Cụ đi bộ qua nhiều làng mạc ven biển vùng Hải Hậu, hỏi thăm nhiều người, nhưng đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. "Tôi trở về nhà, dù rất buồn nhưng vẫn có niềm tin một ngày nào đó sẽ tìm được nguồn cội", cụ kể.
Cụ Phất cho biết quê vợ ở Nghĩa Hưng (Nam Định cũ), cách làng Tùng Sáu khoảng 20 km. Mỗi lần về quê ngoại, cụ lại mượn xe đạp đi hỏi thăm các cụ cao niên và tìm kiếm tại các nghĩa trang địa phương. Cụ nhớ cha tên Riệp (hoặc Diệp), có bốn chị gái là Nghiệp, Nối, Bay và Máy.
Năm 2006, trong một lần trở lại Hải Hậu, cụ Phất dừng chân trước nhà thờ cổ cách đê Cồn Tròn không xa. Nhìn thấy một chiếc cống lớn, cụ nhận định đây là nơi mình từng xuống thuyền cùng cha năm xưa.
"Lúc đó, bố tôi đứng trên triền đê rất lâu nhìn về làng rồi bất chợt khóc như một đứa trẻ", ông Phạm Văn Châu, con trai cụ, kể lại, "Đó là khoảnh khắc cụ tin rằng "mình đã chạm vào quê hương".
Dù vậy, gia đình vẫn không tìm thêm được dấu vết nào của người thân.
Những năm gần đây, do sức khỏe yếu, cụ Phất không thể tự đi xa. Việc tìm kiếm được con cháu tiếp nối thông qua mạng xã hội, thăm hỏi các nhà thờ và tra soát các khu nghĩa trang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Theo đại diện chính quyền địa phương, sau năm 1954, nhiều gia đình ở vùng Hải Hậu đã di cư, khiến dấu vết về một gia đình thợ sửa đồng hồ từ gần một thế kỷ trước hầu như không còn.
Ở tuổi 96, điều cụ Phất trăn trở không phải là những vất vả đã trải qua, mà là câu hỏi chưa có lời đáp: người thân trong gia đình giờ có còn ai hay không.
Con cháu cụ cho biết vẫn chưa từ bỏ hy vọng. Họ tiếp tục tìm kiếm thông tin, mong một ngày nào đó có người nhận ra những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé trong câu chuyện. "Chỉ cần một manh mối nhỏ, gia đình cũng sẽ tìm đến cùng", ông Phạm Văn Châu nói.
"Làm nông kiểu nhỏ lẻ không thể đi xa", ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với ruộng đồng, nói tại hội thảo "Nông nghiệp thông minh" ngày 17/4 ở TP HCM. Theo ông, vòng lặp "được mùa mất giá", trồng - chặt lặp đi lặp lại nhiều năm qua, suy cho cùng vẫn bắt nguồn từ quy mô sản xuất manh mún.
Từ trải nghiệm thực tế, ông Huy cho rằng khi đất đai bị chia cắt, mọi nỗ lực hiện đại hóa đều trở nên nửa vời. Hạ tầng không thể làm đồng bộ, cơ giới hóa bị đội chi phí, còn công nghệ nếu có cũng khó phát huy hiệu quả. Chỉ khi diện tích đất tích tụ đủ lớn, doanh nghiệp mới có thể đầu tư bài bản cho thủy lợi, tự động hóa và tối ưu chi phí.
Câu chuyện của ông Huy phản ánh một điểm nghẽn kéo dài của nông nghiệp Việt Nam. Áp lực từ thị trường xuất khẩu ngày càng lớn khi tiêu chuẩn liên tục siết chặt, buộc ngành không thể tiếp tục dựa vào cách làm cũ. Bài toán giờ đây không còn là tăng sản lượng, mà là tạo ra sản phẩm có thể bán được với giá trị cao và ổn định.
Trong quá trình đó, dữ liệu trở thành nền tảng. PGS TS Đỗ Văn Hùng ví dữ liệu là "hệ mạch" của nông nghiệp số, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa có chuẩn chung. Khoảng trống này khiến nhiều mô hình ứng dụng công nghệ chưa thể phát huy hết hiệu quả, dù tiềm năng rất lớn.
Quay lại với bài toán của doanh nghiệp, ông Huy cho rằng nếu đất đai là "phần xác" thì khoa học công nghệ chính là "phần hồn". Từ giống cấy mô, hệ thống cảm biến IoT đến trí tuệ nhân tạo, công nghệ giúp kiểm soát quy trình sản xuất theo thời gian thực, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm và hạn chế sai số.
Khi chuyển sang quản trị bằng dữ liệu, cách làm nông thay đổi rõ rệt. Doanh nghiệp không còn sản xuất theo cảm tính mà tính toán từng khâu để tối ưu chi phí, giữ giá thành ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện để tạo ra giá trị lớn hơn thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
Xu hướng này đang lan sang nhiều lĩnh vực. Việc đưa AI, robot và các hệ thống tự động xuống đồng ruộng không chỉ giúp tiết kiệm nhân công, mà còn chuẩn hóa quy trình, giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Trong chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, công nghệ còn giúp kiểm soát chất lượng đồng đều - yếu tố then chốt khi tiếp cận các thị trường khó tính.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều lực cản. Đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng việc ứng dụng công nghệ cao chưa đồng đều, do thiếu nguồn lực, thể chế chưa hoàn thiện và đặc biệt là sản xuất còn nhỏ lẻ. Đây là vòng lặp khiến nông dân khó tiếp cận công nghệ, còn công nghệ lại khó lan rộng.
Trong bối cảnh đó, chuyển sang kinh tế nông nghiệp xanh, dựa trên dữ liệu và công nghệ, không còn là lựa chọn mà là hướng đi bắt buộc. Khi các thị trường lớn ngày càng siết tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và chất lượng, những mô hình sản xuất manh mún sẽ dần mất lợi thế.
Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD năm 2025. Nhưng để giữ được vị thế này, ngành không thể tiếp tục đi theo lối cũ. Khi đất đai được tích tụ, dữ liệu được kết nối và công nghệ trở thành nền tảng vận hành, câu chuyện "triệu USD" sẽ không còn là ngoại lệ, mà có thể trở thành hướng đi phổ biến của nông nghiệp Việt Nam.