Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD) đã từng bước hoàn thiện pháp luật tiệm cận chuẩn mực quốc tế, với nền tảng là Luật Người khuyết tật 2010 và Hiến pháp 2013, qua đó xác lập nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và bảo đảm quyền tiếp cận trong các lĩnh vực cơ bản.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa luật và thực thi vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục cải cách.
Pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi xâm phạm. Hệ thống trợ giúp xã hội được mở rộng đáng kể, bao gồm trợ cấp hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ giáo dục thông qua miễn giảm học phí, học bổng.
Bên cạnh đó, giáo dục hòa nhập được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp ngày càng nhiều trẻ khuyết tật có cơ hội học tập trong môi trường phổ thông. Ngoài ra các quy định về tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công, đặc biệt trong môi trường số, đã bắt đầu được triển khai.
Những thành tựu này là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khung chính sách và thể chế. Tuy nhiên phần lớn các kết quả vẫn dừng ở mức định hình chính sách, trong khi việc triển khai trên thực tế chưa đồng bộ. Nhiều công trình công cộng chưa bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận, nguồn lực dành cho giáo dục hòa nhập còn hạn chế.
Bên cạnh các thành tựu, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể.
Trước hết, cơ chế giám sát và chế tài còn yếu dẫn đến tình trạng nhiều quy định về tiếp cận công trình công cộng không được thực hiện đầy đủ, những tòa nhà thiếu đường dốc, thang máy hoặc hệ thống chỉ dẫn phù hợp. Điều này làm cho pháp luật có nguy cơ trở thành “luật trên giấy”.
Thứ hai, các cơ quan và doanh nghiệp chưa có nghĩa vụ rõ ràng trong việc điều chỉnh môi trường làm việc, học tập hoặc dịch vụ để phù hợp với người khuyết tật. Thứ ba, chính sách hiện nay vẫn thiên về trợ cấp hơn là phát triển năng lực; các hỗ trợ về đào tạo nghề, khởi nghiệp và tiếp cận tín dụng còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc.
Thứ tư, sự thiếu liên kết liên ngành giữa giáo dục, y tế và lao động khiến quá trình hỗ trợ bị gián đoạn. Ví dụ, người khuyết tật có thể được học hòa nhập nhưng sau khi tốt nghiệp lại gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
Cuối cùng, định kiến xã hội vẫn là rào cản lớn khi nhiều người khuyết tật bị đánh giá thấp năng lực và bị hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động. Những hạn chế này cho thấy pháp luật Việt Nam hướng tới đảm bảo và tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật song sự công bằng thực chất vẫn chưa đạt được.
Cần luật hóa rõ ràng yêu cầu các cơ quan và doanh nghiệp chủ động điều chỉnh môi trường làm việc, học tập và dịch vụ (ví dụ: phần mềm đọc màn hình, bàn ghế chuyên dụng). Đồng thời bảo đảm các công trình và sản phẩm được thiết kế để tất cả mọi người đều có thể sử dụng ngay từ đầu.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát độc lập và chế tài đủ mạnh nhằm xử lý hiệu quả các vi phạm. Đây là điều kiện then chốt để chuyển từ “có quyền trên giấy” sang “có khả năng thực hiện quyền”.
Phát triển hạ tầng và khả năng tiếp cận, luật hóa tiêu chuẩn bắt buộc, tăng cường kiểm tra và áp dụng chế tài nghiêm minh. Đồng thời cần mở rộng khả năng tiếp cận trong môi trường số, bảo đảm các nền tảng như dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng và giáo dục trực tuyến đều thân thiện với người khuyết tật.
Về công nghệ hỗ trợ, Nhà nước cần có chính sách trợ giá thiết bị hỗ trợ như xe lăn điện, máy trợ thính, phần mềm đọc màn hình. Cần khuyến khích phát triển công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ tiếp cận thông tin.
Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục và việc làm cũng giúp người khuyết tật nâng cao khả năng tự chủ, giảm phụ thuộc vào trợ cấp.
Về hoàn thiện an sinh xã hội, cần điều chỉnh mức trợ cấp phù hợp với chi phí sống và “chi phí khuyết tật”, mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế sang phục hồi chức năng và thiết bị hỗ trợ, cả phát triển nhà ở xã hội theo hướng tiếp cận. Điều này giúp chuyển từ bảo đảm tối thiểu sang tạo nền tảng phát triển năng lực.
Cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới đào tạo nghề theo hướng gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ số. Những giải pháp này còn nâng cao phẩm giá và vị thế xã hội của người khuyết tật.
Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế chống phân biệt đối xử thông qua việc bổ sung các chế tài cụ thể đối với hành vi kỳ thị. Tập trung đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội theo hướng tôn trọng và ghi nhận năng lực của người khuyết tật. Tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách, phát triển công tác xã hội chuyên nghiệp…
Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina - doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
"Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu", ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
"Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động", bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.
Sáng 17/4, làm việc với Bộ Nội vụ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Thanh tra Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu ngành nội vụ tiếp tục rà soát, tham mưu sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là lĩnh vực giáo dục và y tế; tổ chức đánh giá sơ kết một năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, xử lý dứt điểm các vướng mắc.
Bộ Nội vụ được giao triển khai "năm cán bộ cơ sở", bảo đảm đội ngũ đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đồng thời thiết lập hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc cho cán bộ cấp xã. Bộ cũng phải nghiên cứu cơ chế liên thông nhân sự khu vực công và tư, đề xuất giải pháp đột phá trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ; tham mưu chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài.
Chủ trương sắp xếp thôn, tổ dân phố đã được Chính phủ đặt ra từ tháng 4/2025 trong đề án tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, Bộ Nội vụ được giao nghiên cứu lộ trình sắp xếp theo hướng tinh gọn, phục vụ trực tiếp đời sống cộng đồng dân cư.
Theo quy định hiện hành, thôn được tổ chức ở xã, gồm các tên gọi như thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc; tổ dân phố được tổ chức ở phường với các tên gọi như tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu. Đến hết năm 2021, cả nước có hơn 90.000 thôn, tổ dân phố, trong đó khoảng 69.500 thôn và 20.900 tổ dân phố, với gần 297.800 người hoạt động không chuyên trách.
Thôn, tổ dân phố không phải cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư trên cùng địa bàn cư trú, hoạt động theo nguyên tắc tự quản, chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã và sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Mỗi thôn có trưởng thôn, mỗi tổ dân phố có tổ trưởng; trường hợp cần thiết có thêm một phó.
Đối với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Thủ tướng yêu cầu hoàn thiện dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi; hướng dẫn triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng tránh trùng lặp, lãng phí nguồn lực. Bộ này cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện chính sách đối với học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số; xây dựng đề án tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững đến năm 2031.
Thanh tra Chính phủ được giao tập trung thanh tra các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; đồng thời đổi mới theo hướng không chỉ phát hiện, xử lý vi phạm mà còn phòng ngừa, cảnh báo, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy phát triển. Cơ quan này cũng hướng dẫn địa phương xử lý dứt điểm các dự án gặp khó khăn trên địa bàn.
Tại buổi gặp gỡ diễn ra vào ngày 18.4, nhiều DN, ngành hàng đề nghị tỉnh xem xét hỗ trợ cơ chế, chính sách phát triển sản xuất, hỗ trợ tiếp cận đất đai, vốn sản xuất, phát triển thương hiệu... Theo ông Phạm Hoàng Lam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lam Rice Group Inc, DN sản xuất và chế biến gạo xuất khẩu chưa làm chủ thị trường tiêu thụ, chi phí logistics còn cao, liên kết chuỗi giá trị chưa đồng bộ; khó khăn về tài chính thương mại và đầu tư chiều sâu là lý do khiến DN lúa gạo gặp khó khăn.
Do đó, ông Lam đề nghị tỉnh định hướng phát triển thương hiệu gạo, hỗ trợ DN phát triển thị trường xuất khẩu; tổ chức và phát triển chuỗi giá trị lúa gạo; nghiên cứu xây dựng cơ chế giao dịch lúa gạo; hoàn thiện chính sách tiền tệ và thanh toán biên mậu Việt Nam - Campuchia.
Trả lời ý kiến của DN về việc thị trường tiêu thụ nông sản, lúa gạo, ông Hồ Văn Mừng cho biết, tỉnh An Giang đang đề xuất giảm diện tích tích sản xuất lúa để tăng cường phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ. Theo ông Mừng, hiện nay, đặc khu Phú Quốc cần lượng rau củ quả rất lớn để phục vụ nhu cầu khách du lịch, đó là cơ hội để DN và nông dân tham gia sản xuất để cung ứng cho Phú Quốc.
"Trong vòng 18 tháng tới, Phú Quốc sẽ tăng thêm 12.000 phòng khách sạn 5 sao thì chúng ta phải đặt câu hỏi "du khách ăn cái gì", "thức ăn từ đâu"... Chúng ta cần chú ý đến thị trường Phú Quốc, vì chi phí vận chuyển logistics rất rẻ", ông Mừng gợi mở.
Theo ông Mừng, DN sợ nhất khi lập ra dự án đầu tư là vấn đề đất đai. Nếu bỏ tiền ra bồi thường về đất đai thì DN rất sợ rủi ro. Để tránh rủi ro, DN có thể hợp tác với nông dân, xem nông dân là cổ đông, cho nông dân góp của và góp công cùng DN. Còn phía DN sẽ đầu tư vốn, khoa học công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn làm được như thế, DN phải thuyết phục được nông dân bằng lợi nhuận đem lại cho họ.
Trả lời ý kiến DN việc đề nghị tỉnh cho khảo sát để làm bãi biển nhân tạo dọc bờ biển đường Tôn Đức Thắng (phường Rạch Giá) để phát triển du lịch, ông Hồ Văn Mừng cho biết, tỉnh đã tham khảo ý kiến của chuyên gia về việc điều chỉnh dòng chảy của các tuyến sông rạch đổ ra vịnh Rạch Giá để giảm lượng phù sa và thực hiện bãi biển nhân tạo tại Rạch Giá. Tuy nhiên, việc này phải tốn kinh phí rất lớn và phức tạp nên tỉnh không thực hiện được.
"Hiện nay, tỉnh quy hoạch một đảo nhân tạo có diện tích 700 ha, cách bờ Rạch Giá 5 km, có bãi biển, có sân golf, có resort… Hiện, một số tập đoàn đã đăng ký đầu tư đảo nhân tạo này. Tôi hy vọng trong 5 năm tới, người dân Rạch Giá và khách du lịch có thể ra khu này để tắm biển. Nếu DN có phương án, hiến kế gì để Rạch Giá có bãi tắm biển với chi phí rẻ, hợp lý thì phối hợp UBND phường Rạch Giá đề xuất phương án cho tỉnh xem xét…", ông Hồ Văn Mừng nói.