Mục Lục
ToggleNghị quyết yêu cầu các bộ ngành, địa phương phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phân cấp, phân quyền triệt để. Xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, xóa bỏ chồng lấn, chồng chéo, nhất là các nhiệm vụ, quyền hạn có tính liên thông.
Đặc biệt, nghị quyết yêu cầu các bộ ngành, địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp tinh gọn các tổ chức bên trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm yêu cầu tinh, gọn, mạnh.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý. Chính phủ tập trung cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu quả.
Thực hiện sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, giáo dục, y tế và doanh nghiệp nhà nước theo đúng định hướng.
Tập trung xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số, bình dân học vụ số theo chỉ đạo của Trung ương.
Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và liên thông với dữ liệu quốc gia. Tổ chức một cửa liên thông số, kết nối dân cư – đất đai – an sinh – doanh nghiệp…
Cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương. Đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm vận hành đồng bộ các hệ thống thông tin. Đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia, quản trị địa phương, nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.
Khẩn trương rà soát các hệ thống thông tin, phần mềm, ứng dụng thuộc phạm vi quản lý bảo đảm giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc bảo đảm thông suốt, đáp ứng yêu cầu người dùng.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện các quy định pháp luật, hướng dẫn, theo dõi việc sắp xếp các thôn, tổ dân phố ở xã, phường và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới.

Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều nay 17.4, ông Phan Thái Bình, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, đã chủ trì buổi làm việc với Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai.
Báo cáo tại buổi làm việc, ông Nguyễn Hồng Quang, Trưởng ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, cho biết Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựng từ tháng 9.2006 với tổng diện tích tự nhiên hơn 31.000 ha. Trong đó, hơn 1.000 ha được quy hoạch cho các phân khu chức năng phát triển kinh tế.
Cụ thể, tiểu khu 1 (khoảng 30 ha) gắn với khu vực cửa khẩu, đảm nhiệm chức năng kiểm soát và thương mại - dịch vụ; tiểu khu 2 (khoảng 630 ha) định hướng phát triển đô thị, khu phi thuế quan và trung tâm thương mại; tiểu khu 3 (khoảng 56 ha) là trung tâm hành chính công cộng, khu dân cư và dịch vụ.
Từ khi cửa khẩu chính Nam Giang được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế, lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua khu vực này tăng mạnh. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 234,73 triệu USD, tăng 105,7% so với năm 2024. Các mặt hàng chủ yếu gồm gỗ, sắn lát khô, tinh bột sắn, bia lon, vật liệu xây dựng và máy móc phục vụ các công trình thủy điện tại khu vực biên giới.
Theo ông Nguyễn Hồng Quang cửa khẩu quốc tế Nam Giang hiện đóng vai trò đầu mối giao thương quan trọng kết nối các tỉnh Nam Lào, khu vực Đông bắc Thái Lan và Myanmar. Nhờ đó, góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội phía tây thành phố Đà Nẵng.
Dù vậy, quá trình phát triển khu kinh tế vẫn đối mặt nhiều thách thức. Địa hình đồi núi, điều kiện tự nhiên khó khăn khiến việc thu hút đầu tư còn hạn chế. Hạ tầng chưa đồng bộ, các công trình chiến lược triển khai chậm, trong khi bãi tập kết hàng hóa còn chật hẹp. Đặc biệt, quốc lộ 14D (trục giao thông huyết mạch) đang xuống cấp nghiêm trọng, gây trở ngại lớn cho vận tải và lưu thông.
Trước thực trạng này, Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai đề xuất điều chỉnh quy hoạch nhằm phù hợp với giai đoạn phát triển mới.
Cụ thể, sẽ loại bỏ hơn 11.000 ha rừng đặc dụng thuộc Vườn quốc gia Sông Thanh và gần 2.500 ha rừng phòng hộ khỏi phạm vi khu kinh tế, đồng thời bổ sung hơn 11.500 ha đất rừng sản xuất và đất nông nghiệp theo hướng mở rộng về phía đông đến xã Bến Giằng.
Sau điều chỉnh, tổng diện tích khu kinh tế dự kiến còn khoảng 28.400 ha, giảm hơn 2.600 ha, đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành.
Ông Nguyễn Hồng Quang cho hay, trong định hướng dài hạn, Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang sẽ được phát triển thành khu kinh tế logistics, đóng vai trò cửa ngõ quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, kết nối hiệu quả với các nước trong khu vực thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây. Không chỉ dừng ở hoạt động xuất nhập khẩu, khu vực này còn được kỳ vọng trở thành điểm đến du lịch xuyên Á, phục vụ nhu cầu tham quan, mua sắm của du khách trong và ngoài nước.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Phan Thái Bình, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh yêu cầu rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo hướng thực chất, hiệu quả. Đồng thời, thành phố sẽ ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, đặc biệt là nâng cấp quốc lộ 14D.
Thành phố Đà Nẵng sẽ thành lập đoàn công tác khảo sát thực tế tại Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang nhằm tháo gỡ các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai mố số hạng mục. Thành phố cũng sẽ nghiên cứu cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khai thác tối đa tiềm năng, hướng tới xây dựng khu kinh tế trở thành tổ hợp đa ngành, đa lĩnh vực với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội hiện đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương...
Tin Gốc: Thanh Niên

Cách đây 7 - 8 năm, các trường ĐH công lập từng "đau đầu" vì giảng viên (GV) giỏi có xu hướng nghỉ việc để "chạy" sang trường tư thục. Thời điểm đó, trường ĐH tư trả lương hấp dẫn, cơ chế thông thoáng, môi trường làm việc năng động, cơ hội thăng tiến rõ ràng.
Tuy nhiên, thực tế đang đổi chiều. Trong bối cảnh các trường đang cần đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục ĐH và mở rộng quy mô hoặc hướng tới mục tiêu xếp hạng quốc tế, việc tuyển dụng GV trình độ tiến sĩ trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Nếu hôm nay một trường ĐH đưa ra chính sách thu hút bằng chế độ lương và phúc lợi hấp dẫn thì hôm sau, một trường khác đưa ra chính sách cao hơn. Trong đó, nhiều trường ĐH công lập với những lợi thế sẵn có nên đã thu hút nhiều GV từ trường tư thục.
Trưởng khoa của một trường ĐH tư thục cũng đang rất lo lắng vì một số nhân sự của khoa quyết định nghỉ việc để đầu quân vào trường ĐH công lập với lý do muốn thay đổi môi trường làm việc và tìm kiếm cơ hội phát triển tốt hơn, mặc dù thu nhập và môi trường làm việc tại trường này khá ổn.
PGS-TS Bùi Quang Hùng, Phó giám đốc ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cho biết: "Thời gian qua, UEH cũng đã tiếp nhận và đánh giá nhiều hồ sơ ứng viên là các tiến sĩ đang công tác tại các trường ĐH tư thục. Sự dịch chuyển nhân sự này là hoàn toàn bình thường trong một thị trường lao động học thuật năng động. Thực tế cho thấy, có không ít tiến sĩ từ các trường tư thục đã đáp ứng xuất sắc các yêu cầu khắt khe của UEH và hiện đang công tác hiệu quả tại trường".
Theo ông Hùng, bất kể ứng viên đến từ đâu, tất cả đều phải trải qua quy trình tuyển dụng minh bạch và nghiêm ngặt của Hội đồng tuyển dụng UEH, bao gồm: đánh giá hồ sơ khoa học, giảng thử (thường bằng tiếng Anh) và phỏng vấn chuyên môn sâu. "Nếu ứng viên chứng minh được năng lực toàn diện, phù hợp với tầm nhìn và giá trị cốt lõi của UEH, nhà trường luôn trải thảm đỏ chào đón", PGS-TS Hùng cho hay.
PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cũng thông tin từ năm 2025 đến nay, trường đã tuyển mới khoảng 60 GV, tập trung ở các lĩnh vực mũi nhọn và ngành đào tạo có nhu cầu cao. Trong số này, có hơn 30 GV có kinh nghiệm từ các trường tư, hơn 20 GV được đào tạo ở nước ngoài đã trở về công tác.
Tại Trường ĐH Công thương TP.HCM, riêng năm 2025 trường đã thu hút 3 phó giáo sư (PGS) và 31 tiến sĩ. Từ đầu năm 2026 đến nay đã có 7 tiến sĩ; trong đó có 12 GV từ trường ĐH tư thục và 5 tiến sĩ từ nước ngoài về.
Nhận định về vấn đề này, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cho biết: "Nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục ĐH đang trở nên khan hiếm do đào tạo tiến sĩ đang siết chặt. Trong khi đó nhu cầu tuyển dụng của các trường ĐH tăng mạnh. Cầu vượt cung dẫn đến sự cạnh tranh vô cùng gay gắt".
Thời gian qua, Trường ĐH Công thương TP.HCM thực hiện các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, cán bộ, GV có học vị tiến sĩ khi về công tác tại trường, ngoài việc được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách như đội ngũ hiện có, còn được hỗ trợ ban đầu thêm 100 triệu đồng đối với tiến sĩ; 150 triệu đồng đối với PGS và 200 triệu đồng đối với giáo sư (GS). GV có học hàm PGS trở lên có thu nhập cứng hằng tháng gần 60 triệu đồng, tiến sĩ khoảng 35 - 40 triệu đồng chưa kể các khoản thù lao, phụ cấp...
Từ năm 2022, thu nhập bình quân của PGS tại Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM là hơn 60 triệu đồng/tháng, tiến sĩ hơn 30 triệu đồng/tháng; thậm chí một số người thu nhập gấp 3 - 5 lần tùy vào vị trí, thâm niên...
Còn ĐH Kinh tế TP.HCM vào tháng 3.2026 chính thức công bố gói chính sách đãi ngộ toàn diện. Cụ thể, ứng viên trình độ tiến sĩ khi chính thức trở thành viên chức/GV của UEH sẽ được nhận mức hỗ trợ ban đầu 150 triệu đồng/người, PGS là 300 triệu và GS là 500 triệu đồng. Ngoài ra, thu nhập hằng tháng được đảm bảo ở mức độ cạnh tranh rất cao trên thị trường. Được biết GV của ĐH này làm việc từ năm thứ 3 trở đi, mức thu nhập của tiến sĩ khoảng 35 - 40 triệu đồng/tháng, PGS 55 - 60 triệu đồng/tháng, GS từ 65 - 70 triệu đồng/tháng.
Với ĐH Quốc gia TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế - luật hỗ trợ 150 triệu đồng đối với nhân sự không quá 45 tuổi có học vị tiến sĩ; 250 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm PGS và 350 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm GS và cam kết làm việc tại trường tối thiểu 5 năm. Thu nhập của GV là tiến sĩ tại trường từ 28 - 45 triệu đồng/tháng; PGS từ 53 - 65 triệu đồng/tháng và GS từ 65 - 75 triệu đồng/tháng.
Tiến sĩ có thời gian làm việc dưới 3 năm tại Trường ĐH Bách khoa có mức lương tham khảo khoảng 35 triệu đồng/tháng, trên 3 năm là 45 triệu đồng/tháng, PGS và GS khoảng 85 triệu đồng/tháng.
Với Trường ĐH Công nghệ thông tin, mức lương theo vị trí việc làm 21 triệu đồng/tháng/tiến sĩ, thu nhập trung bình 45 triệu đồng/tháng, được hỗ trợ bài báo khoa học thuộc danh mục ISI/Scopus tối đa 200 triệu đồng/bài, hỗ trợ kinh phí khi đạt GS là 100 triệu đồng, PGS là 70 triệu đồng, được hỗ trợ sắp xếp ở nhà công vụ...
Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cũng triển khai nhiều chính sách ưu tiên để thu hút GV là tiến sĩ trở lên, bao gồm hỗ trợ ban đầu khi nhận công tác, đặc biệt với các tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài; xây dựng cơ chế thu nhập cạnh tranh gắn với hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu…
Về xu hướng GV từ trường tư chuyển về trường công, PGS-TS Phan Hồng Hải cho rằng đây là một diễn biến đáng chú ý nhưng không mang tính tuyệt đối. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, sự dịch chuyển nhân lực giữa các khu vực là bình thường, phản ánh quá trình cạnh tranh lành mạnh của hệ thống giáo dục ĐH.
"GV từ trường tư sang trường công, nguyên nhân không chỉ nằm ở yếu tố thu nhập mà còn liên quan đến môi trường học thuật và cơ hội nghiên cứu ổn định hơn tại các trường công lập lớn, uy tín học thuật và thương hiệu của nhà trường, cũng như điều kiện phát triển nghề nghiệp dài hạn; đồng thời, cơ chế tự chủ đang giúp các trường công ngày càng linh hoạt, tiệm cận cơ chế thị trường. Mặt bằng thu nhập giữa khu vực công và tư đang dần thu hẹp. Điều quan trọng là mỗi cơ sở đào tạo phải xây dựng được giá trị riêng và môi trường đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài", ông Hải nhận định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn cũng cho rằng trường xác định rất rõ chính sách tài chính chỉ là một phần. "Để giữ chân người tài một cách lâu dài vẫn là môi trường học thuật, cơ hội phát triển, cơ chế trọng dụng và sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp thực chất. Thu nhập cao nhưng phải được thiết kế theo hiệu quả và lộ trình nghề nghiệp dài hạn, hướng tới việc gắn kết các nhân sự chiến lược bằng cơ chế bền vững, minh bạch và tạo động lực", PGS-TS Xuân Hoàn chia sẻ.
Có thể nói, bên cạnh thu nhập hấp dẫn, một môi trường học thuật tự do, sáng tạo và minh bạch là nơi mà bất cứ GV nào cũng mong muốn, dù là trường công hay tư.
Tin Gốc: Thanh Niên

