Cách nhau hàng trăm kilomet, đền Tranh (ở xã Ninh Giang, Hải Phòng) và đền Kỳ Cùng (tỉnh Lạng Sơn) cùng gắn với một huyền tích về Quan lớn Tuần Tranh. Đây là vị thủy thần được nhân dân tôn kính, phụng thờ từ nhiều thế kỷ.
Giữa vùng hạ lưu sông Luộc (hay nhiều người còn gọi là sông Tranh), đền Tranh thuộc xã Ninh Giang, thành phố Hải Phòng đã tồn tại hơn 800 năm. Ngôi đền trở thành trung tâm tín ngưỡng quan trọng của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ.
Ở phía Đông Bắc, đền Kỳ Cùng nằm bên dòng sông cùng tên, là nơi hội tụ niềm tin tâm linh của người dân vùng biên. Dù ở hai miền địa lý khác nhau, hai ngôi đền vẫn có chung một cội nguồn huyền tích.
Chung một huyền tích
Theo truyền thuyết dân gian, Quan lớn Tuần Tranh, còn gọi là Đệ Ngũ Vương Quan, là hoàng tử thứ năm của vua Thủy Tề. Ông được giao cai quản vùng ngã ba sông Tranh, nơi giao nhau của Ninh Giang, Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Thái Bình (nay là Hưng Yên).
Ông có công khai khẩn, giữ gìn long mạch sông nước và phù trợ người dân chài lưới, buôn bán. Nhờ đó, ông được phong hầu và sắc tôn thần hiệu, trở thành vị thần bảo hộ vùng sông nước.
Biến cố trong cuộc đời ông gắn với một mối tình oan trái. Ông phải lòng một cô gái mà không biết đó là vợ lẽ của quan phủ. Vì sự việc này, ông bị vua xử phạt và đày lên vùng biên giới phía Bắc.
Để chứng tỏ sự trong sạch, ông đã gieo mình xuống sông Kỳ Cùng. Thi thể ông sau đó trôi về bến đò Tranh, nơi ông từng dựng nghiệp. Câu chuyện ấy trở thành dấu mốc quan trọng trong huyền tích.
Cảm phục và tiếc thương, người dân hai miền đã lập đền thờ phụng. Từ đó, một mạch tín ngưỡng hình thành, kéo dài từ sông Tranh đến sông Kỳ Cùng.
Nếu đền Tranh gắn với nơi ông lập nghiệp và hiển thánh, thì đền Kỳ Cùng ghi dấu nơi ông hóa thân. Hai không gian tín ngưỡng vì thế bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể đặc biệt.
Nét tương đồng trong không gian và nghi lễ
Điểm chung nổi bật của hai ngôi đền là đều tọa lạc bên những dòng sông lớn. Đây là yếu tố cốt lõi trong tín ngưỡng thờ thủy thần của cư dân Việt.
Tại đền Tranh, quần thể kiến trúc gồm 34 gian với các hạng mục như tiền tế, trung từ, hậu cung, đông vu. Nơi đây lưu giữ nhiều đại tự, câu đối, cuốn thư và hoa văn mang dấu ấn nghệ thuật thời Trần.
Trong khi đó, đền Kỳ Cùng mang phong cách kiến trúc truyền thống vùng Đông Bắc. Không gian thờ tự tại đây vẫn giữ được vẻ uy nghi, cổ kính qua thời gian.
Dù khác biệt về địa hình và khí hậu, cả hai ngôi đền đều giữ cấu trúc truyền thống. Hậu cung là trung tâm linh thiêng, nơi đặt tượng và bài vị Quan lớn Tuần Tranh ở vị trí cao nhất.
Về nghi lễ, hai ngôi đền đều duy trì các hoạt động hầu đồng, dâng hương, cầu an và cầu tài lộc. Những nghi thức này phản ánh đậm nét tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa dân gian Việt Nam.
Người dân tin rằng Quan lớn Tuần Tranh có thể trừ tà, điều hòa mưa gió và bảo hộ người đi sông nước. Đồng thời, ngài còn được xem là vị thần mang lại may mắn trong làm ăn, buôn bán.
Theo bà Trần Thị Với, thủ nhang đền Tranh, người dân từ nhiều nơi vẫn tìm về dâng lễ, cầu bình an và tài lộc. Niềm tin ấy cũng hiện diện rõ tại đền Kỳ Cùng.
Một nét đặc biệt tạo nên sự gắn kết giữa hai ngôi đền là sự giao thoa trong lễ hội. Hằng năm, lễ hội đền Tranh thu hút hàng chục vạn du khách thập phương.
Trong những ngày hội chính, người dân tưởng niệm sự tích hóa thân của Quan lớn. Nghi lễ tái hiện hành trình linh ứng từ Kỳ Cùng về Tranh Giang, thể hiện mối liên hệ tâm linh sâu sắc.
Tại Lạng Sơn, lễ hội đền Kỳ Cùng cũng được tổ chức trang trọng. Các nghi thức rước nước và tế lễ cầu quốc thái dân an luôn thu hút đông đảo người dân tham gia.
Những nghi lễ ấy không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn thể hiện sự tiếp nối của mạch tín ngưỡng từ miền xuôi lên miền ngược. Đây là minh chứng cho sự lan tỏa bền bỉ của tín ngưỡng dân gian.
Trải qua nhiều thế kỷ, cả hai ngôi đền vẫn giữ được giá trị văn hóa đặc trưng. Những năm gần đây, công tác bảo tồn và tôn tạo di tích được chú trọng, góp phần giữ gìn bản sắc.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Ninh Giang Bùi Thanh Tùng, việc phát huy giá trị hai ngôi đền không chỉ nhằm bảo tồn kiến trúc cổ. Đây còn là cách duy trì mạch nguồn tín ngưỡng gắn với đời sống cư dân sông nước.
Mối liên hệ giữa đền Tranh và đền Kỳ Cùng cho thấy sức sống lâu bền của huyền tích Quan lớn Tuần Tranh. Đây là biểu tượng văn hóa tâm linh vượt qua ranh giới địa lý và thời gian.
Ngày 30/3, tại kỳ họp thứ nhất của HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XIV, các đại biểu đã bầu chức danh Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2026-2031.
Ông Nguyễn Hoàng Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026, đã được bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2026-2031.
HĐND tỉnh Quảng Ngãi cũng bầu bà Y Ngọc và các ông Trần Phước Hiền, Nguyễn Ngọc Sâm, Nguyễn Công Hoàng, Đỗ Tâm Hiển giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2026-2031.
Ông Nguyễn Hoàng Giang 55 tuổi, quê thành phố Hải Phòng. Ông có trình độ tiến sĩ kinh tế. Ông Giang từng giữ chức Vụ phó Vụ Kinh tế - Văn phòng Trung ương Đảng; Vụ trưởng, Thư ký Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Từ năm 2014, ông Giang làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình.
Năm 2020, ông Nguyễn Hoàng Giang được điều động làm Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Tháng 8/2024, ông Nguyễn Hoàng Giang được bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2021-2026.
Tôi chưa từng nghĩ có ngày mình lại sợ gần chồng chỉ vì... mấy chiếc váy ngủ. Nghe thì buồn cười, nhưng đó lại là sự thật.
Tôi và chồng bằng tuổi, năm nay 26. Cả hai đều làm kinh doanh tự do, tiếp quản công việc từ gia đình nên tài chính khá vững, thậm chí có phần dư dả. Chúng tôi quen nhau qua một lần hợp tác làm ăn, anh làm trong lĩnh vực dược mỹ phẩm, còn tôi vận hành chuỗi spa chăm sóc da.
Có lẽ vì xuất phát điểm tương đồng, công việc liên quan, lại thêm ngoại hình “xứng đôi”, anh cao ráo, điển trai, còn tôi cũng thuộc kiểu ưa nhìn, nên chúng tôi nhanh chóng thân thiết. Từ quen biết đến yêu rồi cưới, tất cả chỉ gói gọn trong hơn một năm.
Ở bên ngoài, chồng tôi luôn là hình mẫu đàn ông lý tưởng: Lịch thiệp, nói chuyện nhẹ nhàng, cư xử chừng mực. Bạn bè, người thân ai cũng bảo tôi may mắn khi lấy được người như anh, tôi cũng tin điều đó…
Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi rất trọn vẹn. Vì chưa có con, hai đứa gần như lúc nào cũng quấn quýt, rảnh là đi du lịch, ăn uống, tận hưởng đúng kiểu cuộc sống mà tôi từng mơ ước.
Nhưng rồi, chồng tôi có một sở thích khá kỳ lạ, thứ khiến tôi vừa thấy mới mẻ, có phần kích thích, nhưng càng về sau lại bắt đầu thấy… bất an.
Anh cực kỳ thích tôi mặc đồ ngủ gợi cảm. Điều này thì tôi nghĩ nhiều người chồng cũng vậy, không có gì quá đặc biệt. Nhưng có một điểm khiến tôi băn khoăn: Không biết những người chồng khác có giống chồng tôi không, đó là anh luôn thích xé rách váy ngủ của vợ mỗi lần gần gũi.
Trong tủ đồ của tôi, thứ nhiều nhất chính là váy ngủ. Không phải kiểu bình thường, mà toàn là những bộ cầu kỳ: Ren, lụa, mỏng, ôm sát, thậm chí khá táo bạo. Phần lớn đều do chính tay chồng tôi chọn và mua về.
Ban đầu, tôi không nghĩ gì nhiều. Mới cưới, cảm xúc còn mới mẻ, chuyện gần gũi cũng là cách để hai vợ chồng thêm gắn kết nên tôi chiều anh. Thậm chí, có lúc tôi còn thấy điều đó mang lại cảm giác lạ, khiến mình mong chờ hơn. Tôi nghĩ đơn giản, đó cũng là một cách để giữ lửa hôn nhân. Mỗi tháng tôi mua vài bộ, coi như một khoản “đầu tư” cho tình cảm.
Lần đầu tiên, tôi vẫn nhớ rất rõ. Đang lúc gần gũi, bất ngờ vang lên tiếng “roẹt” ngay bên tai. Tôi giật mình, cả người cứng lại vì ngượng ngùng. Còn anh thì… bật cười thỏa mãn...
Anh chỉ nói như vậy khiến anh phấn khích hơn, dù bản thân anh cũng không giải thích được vì sao. Khi đó, tôi nghĩ chỉ là một phút thăng hoa khi ngày đầu mới cưới. Nhưng không phải.
Lần thứ 2, rồi lần thứ 3… mọi thứ lặp lại y hệt, cho đến khi nó trở thành một thói quen.
Và tôi dần nhận ra, gần như lần nào cũng vậy, những chiếc váy ngủ của tôi đều bị “kết liễu” sau một đêm, từ loại hàng trăm nghìn cho đến những bộ đắt tiền, không còn cái nào nguyên vẹn.
Chiếc váy nào rồi cũng chung một số phận. Có bộ tôi vừa mua về, còn chưa kịp giặt lần thứ hai đã bị xé tan. Những bộ đắt tiền, cả triệu đồng, tôi còn chưa kịp “mặc cho đáng”, vậy mà chỉ sau một buổi tối đã trở thành một mớ vải không thể cứu.
Thậm chí, chồng tôi còn chủ động đặt mua những mẫu váy ngày càng táo bạo hơn, đắt đỏ hơn… và cũng nhanh chóng bị “kết liễu” không thương tiếc sau mỗi lần gần gũi.
Tôi không khó chịu vì việc anh muốn tạo cảm giác mới mẻ khi vợ chồng ở bên nhau. Điều khiến tôi bắt đầu thấy bất ổn là… chi phí cho sở thích ấy.
Vì làm việc tự do tại nhà, thời gian của chúng tôi khá thoải mái, nên tần suất gần gũi cũng nhiều. Mỗi lần như vậy là một chiếc váy “ra đi”. Có tháng, tôi ngồi cộng lại, chính mình cũng giật mình khi con số lên đến cả chục triệu đồng chỉ để mua váy ngủ.
Tôi từng nói với chồng nên tiết chế lại, vì như vậy quá tốn kém. Anh chỉ cười rất nhẹ: “Không sao, anh đưa tiền cho em mua".
Tôi không thiếu tiền, chi vài ba triệu đồng, thậm chí chục triệu đồng cho váy ngủ là chuyện bình thường, nhưng tôi lo ngại về sở thích của anh.
Tôi bắt đầu thấy áp lực mỗi khi gần chồng. Trước đó là cảm giác mong chờ, còn bây giờ lại là sự đắn đo, nên mặc bộ nào, có nên chọn đồ... rẻ hơn không? Có lần tôi thử đề nghị không mặc gì, nhưng anh lập tức từ chối, nói như vậy không còn cảm giác được khám phá, nên đành chiều chồng.
Không biết có chồng chị em nào như chồng tôi không, đây chỉ là một sở thích cá nhân, hay đàn ông nào cũng thế? Tôi đang rất băn khoăn và áp lực nếu sở thích này của chồng kéo dài mãi...
Góc "Chuyện của tôi" ghi lại những câu chuyện trong đời sống hôn nhân, tình yêu. Bạn đọc có câu chuyện của mình muốn chia sẻ vui lòng gửi về chương trình qua hòm thư: [email protected]. Câu chuyện của bạn có thể được biên tập nếu cần. Trân trọng.
Theo thông tin từ nhà văn Sương Nguyệt Minh, sáng 7/4, khi đang trên một chuyến xe buýt dạo quanh thành phố, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu bất ngờ choáng và gục xuống. Ông được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Thu Cúc nhưng không qua khỏi.
Sự ra đi đột ngột của ông khiến giới văn chương bàng hoàng. Chỉ vài giờ trước đó, nhà thơ vẫn xuất hiện tại trụ sở Tạp chí Văn Nghệ Quân đội (số 4 Lý Nam Đế), nơi ông từng gắn bó nhiều năm.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh cho biết, mỗi sáng, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thường đi bộ qua phố Lý Nam Đế, dọc vỉa hè Phan Đình Phùng rợp bóng cây, gặp ai cũng bắt tay, nở nụ cười hiền hậu.
Có những ngày, nhà thơ chọn lên xe buýt “rong chơi” khắp Hà Nội - ngắm phố cổ trầm mặc, những biệt thự cũ, con đường lá vàng hay mặt nước lặng của Tây Hồ. Đó là thú vui giản dị của ông bên cạnh việc sáng tác ở tuổi xế chiều.
Trong lời tiễn biệt, nhà văn Sương Nguyệt Minh xúc động viết: “Nhà số 4 Lý Nam Đế gọi ông là người hiền. Nhớ ông là nhớ Người hiền. Nhớ ông là nhớ Trường ca sư đoàn, Nấm mộ và cây trầm, nhớ Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư đoàn, nhớ Màu hoa đỏ... Ông ra đi, nhưng thơ còn ở lại mãi mãi với đời.
Cầu mong ông thanh thản vân du cõi hạc. Chào ông, tiễn biệt ông - một nhà thơ cùng tòa soạn với nhau, cùng vui buồn với nhau”.
Theo Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, sinh thời nhà thơ Nguyễn Đức Mậu hiểu nghệ thuật là phong phú và khác biệt, luôn độ lượng và công bằng với thế hệ sau nhưng không chấp nhận mọi sự dễ dãi.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại Nam Định, trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ. Năm 1966, thuộc Sư đoàn 312 ở chiến trường Lào. Chính những năm tháng trận mạc đã trở thành nguồn cảm hứng xuyên suốt trong sáng tác của ông, với hình ảnh người lính và hậu phương hiện lên chân thực, giàu cảm xúc.
Sau chiến tranh, ông theo học Trường viết văn Nguyễn Du khóa I, rồi về công tác tại Tạp chí Văn Nghệ Quân đội, từng giữ cương vị Trưởng ban Thơ.
Ông có nhiều tác phẩm tiêu biểu về đề tài chiến tranh, người lính, hình ảnh phụ nữ ở hậu phương như: Mưa trong rừng cháy, Bão và sau bão, Cánh rừng nhiều đom đóm bay, tiểu thuyết Tướng và lính…
Năm 1990, trong chuyến lên biên giới Vị Xuyên (Hà Giang cũ), ông viết bài thơ Màu hoa đỏ để tri ân những người lính đã hy sinh. Một năm sau, tác phẩm được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, trở thành ca khúc đi cùng nhiều thế hệ.
Nhạc sĩ Thuận Yến từng cho biết, bài thơ ban đầu có tên Thời hoa đỏ. Sau khi phổ nhạc, ông trao đổi với nhà thơ để đổi tên thành Màu hoa đỏ, bởi trong ký ức những năm tháng chiến tranh, dọc đường hành quân “chỉ gặp màu rực đỏ của hoa chuối rừng”.
Ca khúc sau đó được nhiều thế hệ nghệ sĩ thể hiện thành công, như NSND Thái Bảo, NSND Thanh Lam hay Trọng Tấn, góp phần đưa tác phẩm trở thành một trong những bài hát đi cùng năm tháng.
GS Mã Giang Lân từng nhận xét: "Nguyễn Đức Mậu như các nhà thơ Việt Nam cùng thời, cùng thế hệ, sống cùng nhân dân và chính cuộc sống chiến tranh với những gian khổ, hy sinh, những chiến tích anh hùng là chất liệu, nguồn cảm hứng dồi dào, phong phú cho thơ".
Nhà thơ cũng là tác giả bài Nếp nghĩ, từng xuất hiện trong đề thi Ngữ văn THPT, để lại nhiều chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống.
Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 và Giải thưởng Văn học ASEAN cùng năm. Ông được đồng nghiệp đánh giá là người sống độ lượng, nghiêm cẩn với nghề và luôn nâng đỡ các thế hệ viết trẻ.