Một người dùng cả thân mình để che chắn lằn ranh sinh tử, một người kiên cường học lại từng bước đi. Đây không chỉ là một câu chuyện vượt qua nghịch cảnh, mà là hành trình của cặp đôi tái sinh từ 97% thương tật rất diệu kỳ.
2 năm trước, một biến cố bất ngờ khiến cuộc đời của Nguyễn Quỳnh Nhi (24 tuổi, ngụ tại xã Quảng Oai, Hà Nội) và Nguyễn Văn Dũng (24 tuổi, ngụ tại xã Cổ Đô, Hà Nội), khi đó mới 22 tuổi đã thay đổi hoàn toàn. Đó là một vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra khi cả hai đang trên đường trở về nhà từ chuyến đi du lịch Hà Giang. “Chúng mình được đưa đi trong tình trạng nguy kịch, mình tỉnh lại sau khi hôn mê 7 ngày, bạn trai thì 9 ngày”, Nhi nhớ lại.
Chuyến đi chơi để kỷ niệm 3 năm chính thức bên nhau bỗng hóa thành cơn ác mộng. Vượt qua cửa tử, Quỳnh Nhi và Văn Dũng đối mặt với hàng loạt chấn thương trên cơ thể và cú sốc tâm lý nặng nề sau tai nạn.
Khi vừa tỉnh lại, Quỳnh Nhi bàng hoàng: “Mình không thể ngờ mình lại bị nặng đến vậy”. Cô miêu tả tình trạng: “Chúng mình đều bị chấn thương sọ não và đa chấn thương trên cơ thể. Khuôn mặt bên trái của mình nát hoàn toàn, hỏng một bên mắt, dập sống mũi, hỏng răng và khớp hàm. Phần thân bị dập phổi, gãy xương sườn, gãy đốt sống lưng và chân trái. Bạn trai mình tổn thương cả hai mắt, dập phổi, gãy xương sườn, gãy hai ngón tay và đứt gân tay. Thời gian đầu sau tai nạn, chúng mình phải mở khí quản để thở”.
Theo Nhi và Dũng cho biết cả hai trước tiên được điều trị chung ở Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội), tỉnh lại sau hôn mê thì được chuyển qua bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hà Nội) để tiếp tục điều trị. Sau đó, Dũng được chuyển sang bệnh viện Quân Y 105 (Hà Nội), còn Nhi thì chuyển sang bệnh viện E (Hà Nội) để điều trị. Dũng nằm viện khoảng hơn 1 tháng còn Nhi là 2 tháng.
Ngay sau khi xuất viện, Nhi và Dũng được đưa đi giám định thương tật. Nhi kể: “Khi ấy tình trạng chúng mình vẫn rất tệ, bạn trai gần như mù loà, tay cụt ngón, mình thì biến dạng khuôn mặt và ngồi xe lăn, kết quả giám định của mình và Dũng lần lượt là 93% và 97%. Sau đó, khi chúng mình về nhà ổn định sau thời gian nằm viện, trong khoảng 2 năm thì chúng mình có làm thêm những cuộc phẫu thuật khác. Dũng thêm khoảng 3 lần nữa, mình khoảng 5 lần nữa mới được kết quả phục hồi như hiện tại”.
Chuỗi ngày tháng gắn với phẫu thuật và hồi phục chức năng cũng không hề dễ dàng mà đầy thử thách và đau đớn. Quỳnh Nhi kể: “Thời gian đó mình phải liên tục làm phẫu thuật, hồi sức rồi lại tập phục hồi chức năng, học lại những cử động cơ bản nhất của một con người từ tập đi, tập co duỗi chân. Lúc nào mình cũng thấy đau đớn, mỗi ngày đều khóc dù đã cố gắng suy nghĩ tích cực để tiếp tục sống”.
Ông Nguyễn Tiến Thắng, bố của Nguyễn Quỳnh Nhi kể về giai đoạn khó khăn ập đến con gái và cả gia đình: “Khi ấy con tôi như trở thành một người tự kỷ, không muốn nói gì với ai và sợ ra đường. Cả gia đình tôi đều khốn đốn và lo lắng, thương con, chỉ biết động viên con và làm mọi cách để con tích cực hơn, hòa nhập lại với cuộc sống”.
Chứng kiến tình trạng của Quỳnh Nhi, Nguyễn Thanh Thủy, bạn thân đã cảm thán: “Ngày vụ tai nạn ập đến với Nhi, mình đã rất sốc vì sợ mất đi bạn. Sau tai nạn, Nhi buồn nhiều, nhan sắc bị hủy hoại, mình thương bạn và vẫn hay qua thăm và an ủi Nhi”.
Để vượt qua ám ảnh, điều giúp Quỳnh Nhi và Văn Dũng đi tiếp không phải phép màu mà là chính quyết tâm và nghị lực khổng lồ, cùng với sự hỗ trợ và tình yêu thương từ gia đình, bạn bè. Văn Dũng tâm niệm: “Bây giờ thì sức khỏe mình cũng yếu hơn trước, nhưng mình nghĩ, mình còn sống là may hơn nhiều người rồi, mình biết ơn vì bản thân còn được sống. Mình cố gắng vươn lên và lấy người thân, người thương làm động lực”.
Chuyện tình đẹp của Quỳnh Nhi và Văn Dũng không phải con đường “màu hồng” mà phải đi qua nhiều thử thách và nước mắt kể từ biến cố thay đổi cuộc đời cả hai.
“Thời điểm sau tai nạn, có thời gian Nhi gặp tổn thương tâm lý, suy nghĩ tiêu cực và không muốn gặp gỡ ai. Chúng mình phải cách xa nhau vì người ở thành phố, người về quê phục hồi, có khi 4,5 tháng mình mới gặp được Nhi. Những ngày đó chúng mình duy trì nói chuyện qua điện thoại, mỗi ngày mình kể Nhi nghe những câu chuyện vui, tích cực để mong Nhi quên đi nỗi buồn”, Dũng kể.
Về khoảnh khắc nhận ra Dũng là người bản thân muốn cùng đi đến suốt cuộc đời, Nhi cho biết đó chính là giây phút cam go khi xảy ra biến cố năm ấy: “Khi xảy ra vụ tai nạn, mình không kịp phản ứng, chính Dũng đã không ngần ngại kéo mình vào người để che chở, tránh để thanh sắt trên xe rơi vào người mình. Cũng vì vậy mà tay Dũng bị mất 2 ngón và đứt gân. Mình thật sự rất trân trọng khoảnh khắc đó, khiến mình nhận ra đây là người đàn ông mình có thể tin tưởng cả đời”.
Quỳnh Nhi và Văn Dũng cho biết sau bước ngoặt năm nào, cả hai đều trưởng thành hơn và biết quan tâm, nghĩ cho nhau nhiều hơn. Ngoài ra, cách nhìn về cuộc sống cũng thay đổi: “Từ sau tai nạn góc nhìn về cuộc sống thay đổi, chúng mình nhận ra không gì quý bằng sức khỏe, chỉ cần còn sức khỏe là còn cơ hội và thời gian để làm được bất cứ điều gì”.
Cái kết đẹp cho cặp đôi trẻ đầy nghị lực Quỳnh Nhi và Văn Dũng là một đám cưới hạnh phúc. Cả hai đã làm lễ dạm ngõ và chuẩn bị chính thức về chung một nhà.
Ông Thắng, bố của Quỳnh Nhi bày tỏ niềm vui: “Chứng kiến hai con bên nhau từ khi hoạn nạn tới giờ, tôi mừng vì hai con luôn yêu thương, chăm sóc cho nhau. Hai con đi đến được ngày hôm nay đúng là một chữ “phúc”. Tôi mong hai con mãi sống mạnh khỏe và hạnh phúc”.
Về dự định tương lai, Quỳnh Nhi chia sẻ: “Sắp tới thì chúng mình mong sẽ có một em bé đáng yêu. Sau đó là hai đứa có thể cùng thực hiện những dự định còn dang dở đã tạm gác lại 2 năm trước”.
Mặt bằng "đất vàng" bỏ trống kéo dài không chỉ làm giảm sức sống của các tuyến phố trung tâm TP.HCM mà còn khiến chủ sở hữu mệt mỏi, khó khăn trên đống tài sản.
Với vị thế "tựa sơn hướng thủy", Đền Bến Dược nằm phía thượng nguồn sông Sài Gòn. Khác với vẻ lộng lẫy của những khối bê tông ở hạ nguồn, công trình này là sự kết tinh từ trái tim và trí tuệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM cùng đội ngũ trí thức, nghệ nhân tâm huyết.
Được khởi công vào dịp 103 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1993), Đền Bến Dược mang sức nặng của lời tri ân. Đó là nơi hơn 45.000 người con từ khắp mọi miền ngã xuống vì nền độc lập của mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ấn tượng về kiến trúc của Đền Bến Dược không nằm ở sự đồ sộ, mà ở trục đường thẳng tắp, dẫn bước người thăm đi qua từng lớp không gian. Mỗi điểm dừng là một nấc cảm xúc của hành trình tưởng niệm: từ tam quan, nhà văn bia, đến tháp chín tầng, đền chính...
Từ cổng Tam quan, người viếng đi qua Nhà văn bia với khối đá Ngũ Hành Sơn nặng 3,7 tấn. Tại đây, bài văn tế Đời đời ghi nhớ của nhà thơ Viễn Phương khắc trên đá như lời nhắc nhở lặng lẽ: "Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn - Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường?".
Chính lời thơ ấy khiến bước chân chúng tôi chậm lại để suy ngẫm trước khi tiến sâu hơn vào trung tâm của khu tưởng niệm. Đường thẳng này không chỉ là lối đi của kiến trúc, mà còn là hành trình đi vào ký ức, nơi mỗi bước chân là một lần đối diện với sự hy sinh.
Vượt qua khoảng sân rộng là tòa tháp chín tầng cao 39 m vươn mình giữa khuôn viên Đền Bến Dược. Phóng mắt từ đỉnh tháp, ngôi đền nép mình bên dòng sông hiền hòa như chưa từng đi qua khói lửa. Nhờ kiến trúc mở, gió sông Sài Gòn có thể lồng lộng thổi vào từng ngóc ngách, giữ cho không gian luôn thông thoáng.
Bên cạnh đó là đền chính, được bố trí theo kiến trúc hình chữ U. Ở vị trí trung tâm là tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xung quanh là 3 mặt tường khắc 45.666 tên các anh hùng liệt sĩ. Hình chữ U như vòng tay lớn, bao bọc những người lính đã về với đất mẹ. Trong số đó, hơn 14.000 người con từ hàng chục tỉnh, thành khác đã nằm lại đất này.
Điểm kết của hành trình tưởng niệm là biểu tượng "Hồn thiêng đất nước" cao 16 m, nặng 243 tấn bằng đá granit. Ở khoảng cách gần, công trình mang dáng dấp giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhưng lùi ra xa, giọt nước mắt bỗng hóa thành ngọn bút sừng sững, kiên nhẫn viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc lên nền trời xanh thẳm Củ Chi.
"Làm sao để đưa hơn 45.000 cái tên vào 3 bức tường của đền chính, mà người đời sau vẫn đọc rõ từng quê quán, đơn vị?".
Câu hỏi hóc búa đó đã theo kiến trúc sư Khương Văn Mười (nguyên Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam) suốt những năm tháng thiết kế Đền Bến Dược, một công trình của những "lần đầu tiên".
Trong ký ức của kiến trúc sư Khương Văn Mười, thiết kế Đền Bến Dược là hành trình vượt khó đúng nghĩa. Giữa lúc tư liệu về kiến trúc cổ miền Nam còn khan hiếm, vật liệu xây dựng thiếu thốn khi phải đặt tận Bình Dương, ông cùng các cộng sự đã phải "vừa vẽ, vừa mò mẫm" dưới sự góp ý sát sao của các bậc lão thành cách mạng.
"Lúc đó khó lắm, đền không thể làm quá to, mà chữ phải đủ lớn để đứng dưới nhìn lên vẫn đọc được. Nếu làm chữ lớn thì chỉ ghi được hơn chục ngàn tên là hết chỗ", kiến trúc sư Khương Văn Mười chia sẻ.
Những ngày ấy, chiếc xe cũ của ông Mười gần như chạy liên tục giữa trung tâm thành phố và công trường. Đường xa, nhiên liệu thiếu, nhưng các cuộc thảo luận về việc đưa đất thiêng từ Điện Biên Phủ, Trường Sơn về hội tụ; về việc bố trí vị trí trang trọng nhất cho các mẹ Việt Nam anh hùng gần bàn thờ Bác Hồ thì chưa bao giờ dừng.
Cuối cùng, họ cũng tìm thấy câu trả lời cho bài toán hóc búa: thiết kế vách bia giật cấp 8 tầng. Thay vì một mặt phẳng gây ngộp, vách đá được chia thành các lớp so le chồng lên nhau. Cách làm này vừa giúp bao quát được tầm mắt, vừa tận dụng tối đa không gian sát trần nhà.
Chính lối xếp giật cấp này đã tạo ra hiệu ứng thị giác "vô tận". Ở góc nghiêng, các tấm bia trông như những lớp sóng đá chạy dài hút mắt. Hệ thống đèn âm được giấu khéo léo ở các khe giật, rọi ngược từ dưới lên.
Lúc này, chúng tôi không thấy sự nặng nề của những bức tường đá, mà là hàng vạn đốm sáng như những vì sao đêm. Sự sắp xếp ấy buộc người ta phải ngước nhìn, tạo ra tâm thế cung kính tự nhiên.
Khi ngồi nhìn lại công trình mang tính bước ngoặt của đời mình, kiến trúc sư Khương Văn Mười chỉ có một nỗi nuối tiếc: "Hồi đó mải làm quá, gặp gỡ toàn những người nổi tiếng, những bậc tiền bối tâm huyết mà không chụp lại được tấm ảnh nào làm kỷ niệm".
Nhưng có lẽ, nụ cười nghẹn ngào của những người ở lại khi nhìn tên người thân mình trên bia đá chính là "tấm ảnh" giá trị nhất mà ông Mười đã lưu giữ được.
Gần 30 năm, Đền Bến Dược vẫn nằm lặng lẽ giữa khu di tích anh hùng, ôm theo nghĩa tình sâu nặng được gửi gắm trong từng ý tứ của tiền nhân.
Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, nơi đây còn trở thành điểm chạm để những thế hệ hôm nay tìm về, lắng nghe và thấu hiểu quá khứ.
Cô Ngô Thị Đan Phượng, giáo viên Trường THCS Trần Huy Liệu, chia sẻ rằng đến tham quan và tìm hiểu Đền Bến Dược là dịp để các em học sinh chạm vào chiều sâu lịch sử.
"Tôi mong các em lắng lại để cảm nhận những mất mát, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Từ đó, mỗi em sẽ tự soi lại mình, nhận ra trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo vệ và góp phần xây dựng đất nước hôm nay và mai sau", cô Phượng nói.
Giờ đây, khi những chuyến xe buýt đường thủy đưa du khách ngược dòng Sài Gòn, Đền tưởng niệm Bến Dược không còn là điểm đến xa xôi. Ngôi đèn này đã trở thành một phần không thể tách rời trong mạch sống của TP.HCM.
Tại buổi lễ, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Phạm Thanh Hà đã công bố quyết định của Chủ tịch nước bổ nhiệm chức danh thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đối với các ông, bà: Nguyễn Hải Trâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy TAND tối cao;
Nguyễn Văn Cường, thẩm phán TAND bậc 3, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội; Lê Hưng Dũng, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Khánh Hòa;
Lê Thanh Phong, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND TP.Hồ Chí Minh; Đỗ Mạnh Tăng, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Hưng Yên;
Nguyễn Hải Thanh, thẩm phán TAND bậc 3, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội; Nguyễn Hữu Tuyến, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Quảng Trị; Đỗ Thị Hải Yến, thẩm phán TAND bậc 3, Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra về dân sự TAND tối cao.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Phạm Thanh Hà cũng công bố quyết định bổ nhiệm thẩm phán TAND tối cao Nguyễn Hải Trâm, giữ chức vụ Phó chánh án TAND tối cao.
Tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu TAND cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển và kỳ vọng của nhân dân.
Mỗi thẩm phán phải thực sự độc lập trong xét xử, chỉ tuân theo pháp luật; không để bất kỳ áp lực nào chi phối hoạt động xét xử; không để lợi ích cá nhân, quan hệ riêng tư làm ảnh hưởng đến sự công tâm, khách quan của phán quyết.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý mỗi bản án, quyết định phải bảo đảm đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý, có sức thuyết phục và có tác dụng giáo dục, định hướng xã hội; cần tiếp tục hạn chế tối đa các trường hợp án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan; tuyệt đối không để xảy ra oan, sai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phát huy vai trò của TAND tối cao trong việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và tham gia hoàn thiện thể chế.
Các thẩm phán TAND tối cao không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử, mà còn có trách nhiệm tổng kết thực tiễn, phát triển án lệ, góp phần định hướng áp dụng pháp luật trong toàn hệ thống và tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Phán quyết của TAND tối cao phải thực sự có giá trị chuẩn mực, có tính dẫn dắt và định hướng thực tiễn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi phán quyết của tòa án phải góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, uy tín của tòa án không chỉ được thể hiện qua số lượng vụ việc được giải quyết, mà quan trọng hơn là ở việc công lý có được thực thi nghiêm minh, công bằng trong thực tiễn hay không.
Công lý phải được thể hiện trong từng bản án đúng pháp luật, trong từng quyết định công tâm, khách quan, trong từng ứng xử chuẩn mực của người thẩm phán; phải góp phần bảo vệ cái đúng, bác bỏ cái sai, xử lý nghiêm minh cái xấu, cái ác.
Niềm tin của nhân dân được vun đắp từ chính những phán quyết cụ thể, từ sự công tâm, khách quan và liêm chính trong hoạt động xét xử.