Bộ Xây dựng vừa góp ý chi tiết đối với đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, trong đó cảnh báo về quá tải hạ tầng và yêu cầu làm rõ tính khả thi của mục tiêu dân số, giao thông công cộng và hạ tầng kỹ thuật.
Trong đồ án quy hoạch, Hà Nội đề xuất xây dựng sân bay thứ hai ở phía Nam (vùng Phú Xuyên, Ứng Hòa hoặc giáp Ninh Bình), quy mô 4E, công suất 30-50 triệu khách, một triệu tấn hàng hóa mỗi năm, diện tích khoảng 1.500 ha.
Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cho biết khu vực phía Tây Nam gặp nhiều hạn chế về địa hình và vùng trời, gây khó khăn cho thiết kế đường bay. Việc xác định vị trí và quy mô sân bay thứ hai cần tiếp tục nghiên cứu sau năm 2030. Thời điểm này công nghệ điều hành bay, dẫn đường hàng không phát triển và có thể đáp ứng được tính khả thi của quy hoạch, khai thác hiệu quả giữa các cảng hàng không.
Mặt khác, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư sân bay quốc tế Gia Bình với quy mô 50 triệu hành khách/năm đến 2050, sẽ góp phần giảm tải cho Nội Bài. Vì thế quy hoạch sân bay thứ hai của Hà Nội cần cập nhật lại theo định hướng mới, trong đó xem xét cả phương án sân bay phía Đông Nam hoặc phía Nam, các chỉ tiêu quy hoạch dự kiến của sân bay sẽ được tiếp tục nghiên cứu, xác định đến năm 2030, chưa nên chốt vị trí.
Trước đó ngày 23/3, Văn phòng Chính phủ ban hành thông báo kết luận của Thường trực Chính phủ về quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội. Thường trực Chính phủ yêu cầu Hà Nội đánh giá đầy đủ tiềm năng, ưu thế cạnh tranh của phương án xây dựng sân bay thứ hai so với các cảng hàng không lân cận trong quá trình lập quy hoạch.
Đánh giá hiện trạng còn sơ lược, chưa đủ định hướng dài hạn
Ngoài nội dung sân bay thứ hai, Bộ Xây dựng yêu cầu Hà Nội phân tích sâu hơn các vấn đề đang tồn tại như làm rõ mật độ giao thông, tỷ lệ đất giao thông, mức độ quá tải nội đô, đánh giá kết nối giữa trung tâm và đô thị vệ tinh, hiệu quả các tuyến vành đai, chỉ ra nguyên nhân ùn tắc giao thông, thay vì chỉ mô tả hiện trạng.
Đối với hệ thống thoát nước, Hà Nội cần xác định khu vực ngập úng thường xuyên, phân tích các nguyên nhân (quá tải, thiếu hồ điều hòa, đô thị hóa nhanh…), lượng hóa mức độ quá tải bằng so sánh giữa thiết kế và thực tế.
Đối với rác thải, Bộ cho rằng nhận định “công nghệ xử lý rác lạc hậu, quá tải” là chưa hoàn toàn chính xác, vì Hà Nội đã có các nhà máy điện rác hiện đại. Tuy nhiên, cần đánh giá hiệu quả vận hành thực tế và xác định lượng rác phát sinh để quy hoạch phù hợp.
Thực tế Hà Nội đang đối mặt với các vấn đề hạ tầng đô thị như nước sạch phân bố không đồng đều. Khu vực nội đô cơ bản được cấp nước máy ổn định, nhưng ngoại thành vẫn phụ thuộc nước giếng khoan. Thành phố phụ thuộc nước ngầm gây suy giảm mực nước, nguy cơ sụt lún nền đất, tỷ lệ thất thoát nước còn cao.
Tỷ lệ xử lý nước thải còn thấp, mặc dù đã có các nhà máy lớn nhưng tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý chỉ khoảng 30-40%, phần lớn nước thải sinh hoạt vẫn xả thẳng ra sông, hồ. Nhiều tuyến phố ở nội thành vẫn ngập khi mưa lớn do hệ thống thoát nước cũ, ao hồ tự nhiên bị san lấp. Rác thải rắn phụ thuộc chôn lấp chiếm khoảng 85-90%, rác thải sinh hoạt vẫn xử lý bằng chôn lấp.
Cùng với đó, tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Người dân sử dụng phương tiện cá nhân phổ biến, tỷ lệ phương tiện công cộng mới đạt khoảng 19%.
Nhiều chỉ tiêu cần đánh giá lại tính khả thi
Bộ Xây dựng đề nghị Hà Nội bổ sung đầy đủ chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật như cấp nước, xử lý nước thải, rác thải, năng lượng… theo các giai đoạn 2030, 2045 và 2065. Đây được coi là cơ sở quan trọng để dự báo và định hướng phát triển hệ thống hạ tầng phù hợp với quy mô đô thị trong tương lai.
Một vấn đề khác là chỉ tiêu vận tải hành khách công cộng. Hiện tỷ lệ này của Hà Nội mới đạt khoảng 19%, nhưng quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 50-55% ở khu vực trung tâm và 40% ở đô thị vệ tinh. Bộ Xây dựng đề nghị Hà Nội rà soát kỹ tính khả thi, bởi đây là mức tăng lớn trong thời gian ngắn.
Bộ Xây dựng cũng bày tỏ lo ngại về kịch bản tăng dân số. Theo đồ án quy hoạch, dân số Hà Nội dự kiến tăng từ 9,9 triệu vào năm 2025, lên 11,5-12 triệu năm 2030, tức tăng 15-20% chỉ trong 5 năm. Trong dài hạn, Hà Nội có thể đạt 17-19 triệu vào năm 2065, trong khi giai đoạn 2045-2055 được dự báo là thời điểm Việt Nam đạt đỉnh dân số.
Cơ quan này đề nghị nghiên cứu bổ sung các nội dung định hướng cơ bản cho tầm nhìn 100 năm (sau năm 2065), trong đó lưu ý sau năm 2065 xu hướng dân số giảm theo quy luật, sẽ có nguy cơ dư thừa không gian và hạ tầng, gia tăng áp lực tài chính và vấn đề an sinh xã hội. Hà Nội cần định hướng mô hình phát triển đô thị ổn định theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng sống.
Một trong những tồn tại lớn là tình trạng khu đô thị phát triển nhưng hạ tầng giao thông không theo kịp, gây ùn tắc nghiêm trọng. Bộ Xây dựng nhấn mạnh nguyên tắc: hạ tầng giao thông ngoài dự án phải đi trước một bước, đảm bảo kết nối đồng bộ trước khi đưa dân vào ở.
Đồng thời, Hà Nội cần có chiến lược rõ ràng để cải tạo hơn 1.500 khu nhà ở cũ, đặc biệt là các khu tập thể xuống cấp. Đây không chỉ là vấn đề an toàn mà còn liên quan đến diện mạo đô thị và chất lượng sống.
Về giải pháp thực hiện, Bộ Xây dựng đề xuất chính quyền thành phố xác định dự án trọng tâm theo từng giai đoạn; ưu tiên các dự án đột phá như đường sắt đô thị, hạ tầng kết nối và lập kế hoạch phân kỳ đầu tư cụ thể.
Tôi và bạn gái yêu nhau cách đây 6 tháng sau khi trải qua đầy rẫy những chuyện khó khăn. Trước đó tôi thích một người con gái khác, khi đó bạn gái chính là người giúp tôi có thể đến với người mình thích, kết quả lại không thành công. Chính bạn gái là người đã động viên an ủi và bên cạnh tôi mọi lúc. Sau đó một khoảng thời gian, tôi đã yêu em.
Quen nhau một năm, yêu được nửa năm, em giờ phải đi du học. Tôi không sợ yêu xa nhưng ngặt nỗi em sẽ học chung trường và ở chung khu nhà với người em từng thích rất nhiều. Tôi cảm thấy buồn bã và lo sợ lắm. Liệu em có rung động một lần nữa với người đó và tôi sẽ mất em không? Tôi buồn mấy ngày nay mà không biết phải suy nghĩ sao cho đúng. Em rất tốt với tôi, tôi có nên tin tưởng tuyệt đối ở bạn gái không?
Theo Nghị quyết 98 ngày 6/4, nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tách thành 15 dự án giải phóng mặt bằng do 15 tỉnh, thành phố làm chủ đầu tư và một dự án di dời công trình điện lực do Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện, dự kiến hoàn thành vào quý 4/2028.
Dự án độc lập lớn nhất là xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao do Bộ Xây dựng quyết định đầu tư, mục tiêu hoàn thành cơ bản vào năm 2035.
Nghị quyết cho phép người quyết định đầu tư tiếp tục tách các dự án trên thành các dự án thành phần hoặc dự án thành phần độc lập, phù hợp quy mô và đặc thù từng đoạn tuyến.
Đáng chú ý, người quyết định đầu tư không phải thực hiện thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư mà có thể trực tiếp lập, thẩm định và quyết định đầu tư, đồng thời triển khai xây dựng khu tái định cư trên cơ sở thiết kế sơ bộ trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
Về giải phóng mặt bằng, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật được triển khai sau khi chủ đầu tư bàn giao hồ sơ và xác định mốc giới ngoài thực địa cho địa phương.
Nghị quyết cũng cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế trong lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ tư vấn, xây lắp và các hợp đồng EPC (thiết kế - mua sắm - thi công), EC (thiết kế - thi công), EP (thiết kế - mua sắm) và chìa khóa trao tay.
Bộ Xây dựng được giao phối hợp với các bộ, ngành và địa phương chỉ đạo đơn vị tư vấn thiết kế theo hướng lựa chọn tuyến thẳng nhất có thể, bảo đảm thông số kỹ thuật và phù hợp điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, nhằm hạn chế điều chỉnh sau khi đã giải phóng mặt bằng.
Bộ cho biết các đơn vị tư vấn đang hoàn thiện kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu cho các gói khảo sát và lập báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam. Dự kiến tổ chức lựa chọn nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi trong quý 2.
Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài 1.541 km, từ Hà Nội đến TP HCM, được thiết kế đường đôi, khổ 1.435 mm, tốc độ 350 km/h, gồm 23 ga hành khách và 5 ga hàng hóa; chủ yếu vận chuyển hành khách, đồng thời đáp ứng yêu cầu vận tải hàng hóa khi cần thiết.
Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.713.540 tỷ đồng, tương đương 67,34 tỷ USD, thực hiện theo hình thức đầu tư công, dự kiến triển khai giai đoạn 2025-2035. Nhiều địa phương đã thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị khởi công vào tháng 12/2026.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 94/2026 về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, thay thế văn bản số 160/2024.
Theo nghị định, cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch lái xe ôtô phải trang bị hệ thống định danh và xác thực điện tử, trong đó có thiết bị nhận diện khuôn mặt học viên. Hệ thống kết nối với các nền tảng số quốc gia nhằm bảo đảm việc nhận diện, xác thực và cung cấp giấy tờ điện tử của học viên từ khi đăng ký đào tạo đến khi sát hạch.
Các đơn vị phải triển khai hệ thống định danh và xác thực điện tử hoàn thành trước ngày 1/1/2027. Thời gian áp dụng sau 6 tháng khi nghị định có hiệu lực để các đơn vị có thời gian đầu tư phương tiện.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, hiện nay thủ tục đăng ký học và thi sát hạch vẫn sử dụng nhiều loại giấy tờ, dễ xảy ra sai sót khi kê khai. Chẳng hạn, nếu nhập sai số căn cước công dân, hệ thống có thể trả về thông tin của người khác, dẫn đến dữ liệu giữa khâu đào tạo và sát hạch không đồng bộ.
Việc áp dụng định danh và xác thực điện tử trong đào tạo, sát hạch lái xe tương tự quy trình kiểm soát tại sân bay. Người dùng không cần xuất trình giấy tờ mà chỉ cần qua hệ thống quét nhận diện khuôn mặt là có thể xác thực thông tin.
Khi triển khai trong đào tạo lái xe, hệ thống sẽ sử dụng thiết bị đọc thẻ căn cước công dân tích hợp camera nhận diện khuôn mặt, kết hợp phần mềm xác thực sinh trắc học. Học viên chỉ cần quét căn cước công dân, hệ thống sẽ tự động trích xuất và xác thực thông tin, thay cho việc kê khai thủ công như hiện nay.
Nhờ đó thay vì phải kiểm tra hồ sơ và đối chiếu thông tin thủ công, nhân viên trung tâm đào tạo chỉ mất vài giây để xác nhận dữ liệu học viên. Việc xác thực chính xác danh tính sẽ góp phần loại bỏ tình trạng học hộ, thi hộ, ngăn chặn gian lận.
Mô hình này cũng giúp đảm bảo dữ liệu người học lái xe "sạch" ngay từ đầu vào. Thông tin như nhân thân, tình trạng sức khỏe, ngày sinh, số định danh... sẽ được liên thông xuyên suốt từ khâu đào tạo đến sát hạch và cấp giấy phép.
Cục Đường bộ Việt Nam cho biết mỗi bộ thiết bị hiện giá khoảng 15 triệu đồng. Với hơn 370 cơ sở đào tạo lái xe trên cả nước, tổng chi phí đầu tư khoảng 5,5 tỷ đồng.