Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O’Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O’Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O’Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O’Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
“Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí”, một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O’Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O’Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
“Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp”, anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O’Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O’Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O’Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng “cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu”.
Thông tin về O’Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
“Basher-52 vừa liên lạc”, một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. “Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống”. Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ “hạm đội trên không” gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
“Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết”, ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O’Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn “mù thông tin” nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O’Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O’Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
“Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy”, Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O’Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
“Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng”, Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O’Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
“Đã cứu được cậu ấy”, Lake nói.
“Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường”, ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O’Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O’Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là “một anh hùng nước Mỹ”.
Theo Hãng tin Reuters ngày 18-4, phát biểu trên chuyên cơ Air Force One, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói "mọi thứ có vẻ đang diễn ra rất tốt với Iran", nhưng từ chối tiết lộ chi tiết về thông tin tích cực mà ông vừa nhận được.
"Chúng tôi có một số tin khá tốt cách đây 20 phút, và có vẻ mọi thứ đang diễn ra rất tốt ở Trung Đông với Iran. Bạn sẽ sớm nghe thôi. Tôi nghĩ đó là điều nên xảy ra. Đó là điều hoàn toàn hợp lý. Và tôi nghĩ nó sẽ xảy ra. Chúng ta sẽ xem điều gì xảy ra, nhưng tôi tin là sẽ như vậy", ông nói khi được hỏi về khả năng đạt thỏa thuận.
Tuy nhiên nhà lãnh đạo Mỹ cũng để ngỏ kịch bản cứng rắn hơn. Ông cho biết có thể sẽ không gia hạn lệnh ngừng bắn tạm thời giữa Washington và Tehran nếu hai bên không đạt được thỏa thuận trước hạn chót dự kiến vào 22-4.
"Có thể tôi sẽ không gia hạn… và đáng tiếc là chúng tôi sẽ phải bắt đầu ném bom trở lại", ông nói, đồng thời khẳng định lệnh phong tỏa các cảng Iran sẽ vẫn được duy trì.
Các phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh các phái đoàn Mỹ và Iran dự kiến sẽ tới Pakistan vào cuối tuần và có thể tiến hành đàm phán vào ngày 20-4 (giờ Việt Nam). Hiện phía Mỹ chưa xác nhận lịch trình này.
Trước đó các cuộc thương lượng giữa hai bên vẫn còn nhiều khác biệt lớn và chưa đạt được đồng thuận.
Trong khi đó Iran tuyên bố đã "mở lại hoàn toàn" eo biển Hormuz sau thỏa thuận ngừng bắn 10 ngày giữa Israel và Lebanon, nhưng cảnh báo có thể đóng lại tuyến hàng hải quan trọng này nếu Mỹ tiếp tục phong tỏa. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cũng công bố các điều kiện về việc lưu thông qua eo biển Hormuz.
Liên quan các điều khoản tiềm năng của thỏa thuận, ông Trump khẳng định Mỹ và Iran có thể cùng chuyển lượng uranium làm giàu của Tehran sang Mỹ như một phần của giải pháp chấm dứt xung đột. Tuy nhiên Bộ Ngoại giao Iran đã bác bỏ khả năng này, tuyên bố kho dự trữ uranium sẽ không được chuyển đi "bất cứ đâu".
Trong một diễn biến liên quan, ông Trump cho biết Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình "rất vui" về việc eo biển Hormuz được mở lại, đồng thời tiết lộ cuộc gặp giữa hai nhà lãnh đạo tại Bắc Kinh vào tháng 5 "có thể mang tính lịch sử".
Hôm 9.4, Tổng lãnh sự quán Úc tại TP.HCM phối hợp cùng Dear Our Community, Cộng đồng Doanh nghiệp Cựu sinh Úc (AABN) và các đối tác tổ chức Diễn đàn Chuyển đổi xanh Việt Nam – Úc 2026.
Phát biểu khai mạc, Tổng lãnh sự Úc tại TP.HCM Sarah Hooper khẳng định chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện chính sách, mà đã trở thành một yêu cầu tất yếu của kinh doanh. Và quan trọng hơn, đó là cơ hội hợp tác giữa hai quốc gia.
Theo bà Hooper, diễn đàn được tổ chức vào thời điểm đặc biệt, khi mà những gián đoạn trong nguồn cung năng lượng, sự dịch chuyển của các dòng thương mại và các yêu cầu ngày càng khắt khe của chuỗi cung ứng đang tái định hình các ngành công nghiệp với tốc độ nhanh hơn dự kiến.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không còn là mục tiêu xa vời đối với Việt Nam, mà đã trở thành hiện thực cấp bách. Điều này cũng mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư Úc mong muốn đồng hành cùng Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Diễn đàn đã cung cấp nền tảng đối thoại giữa các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà nghiên cứu và nhà đổi mới sáng tạo về cách thức mà tính bền vững, đổi mới sáng tạo và các quan hệ đối tác chiến lược có thể hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi của thị trường và mở ra các cơ hội tăng trưởng mới.
Các mô hình hợp tác giữa Úc và Việt Nam trong những lĩnh vực trọng điểm cũng được giới thiệu, tập trung vào năng lượng sạch, sản xuất xanh, nông nghiệp bền vững, tài chính xanh và chuyển đổi dựa trên dữ liệu.
Diễn đàn cũng tạo cơ hội tăng cường kết nối trong cộng đồng cựu sinh Úc, giữa doanh nghiệp và các tổ chức, qua đó thúc đẩy hợp tác thực chất, cùng có lợi giữa Úc và Việt Nam trong tiến trình hướng tới một tương lai bền vững và có khả năng thích ứng cao hơn.
Tổng lãnh sự quán Úc đã mời nhiều chuyên gia đầu ngành của nước này đến chia sẻ những câu chuyện về kinh nghiệm của nước Úc trong hành trình chuyển đổi xanh, nhất là khi Úc đang đầu tư mạnh mẽ vào nâng cấp lưới điện và cải cách thị trường năng lượng, theo bà Hooper.
Trả lời Báo Thanh Niên, GS. Andrew Blakers của Đại học Quốc gia Úc, nhà đồng phát minh công nghệ pin mặt trời PERC, cho hay để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam trên các phương diện chính sách, công nghệ, yêu cầu tiên quyết là chấm dứt việc đầu tư vào các thiết bị sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Điều này đồng nghĩa trong vòng 15 – 20 năm tới, phần lớn các hệ thống hiện tại sẽ được thay thế bằng các thiết bị chạy điện, vận hành bằng điện mặt trời và gió.
"Việt Nam đang chứng kiến nhu cầu năng lượng tăng trưởng nhanh, và toàn bộ nhu cầu này nên được đáp ứng bằng năng lượng tái tạo, cụ thể là điện mặt trời và điện gió", GS. Blakers nói.
Chia sẻ kinh nghiệm của Úc, diễn giả cho hay trong suốt một thập niên qua Úc gần như chỉ phát triển các dự án điện mặt trời và điện gió. Kết quả là giá thành các nguồn năng lượng này liên tục giảm và hiện đã trở thành nguồn năng lượng rẻ nhất trong lịch sử. Đây không phải là một quá trình chuyển đổi phức tạp, mà ngược lại, rất rõ ràng và khả thi. Không cần phát minh thêm công nghệ mới, vấn đề chỉ là quyết tâm triển khai.
Về câu hỏi làm thế nào để chính sách có thể theo kịp tiến trình chuyển đổi này, GS. Blakers cho rằng ở cấp độ chính phủ điều quan trọng là phải đưa ra quyết định dứt khoát về việc đẩy nhanh chuyển đổi sang năng lượng xanh. Khi đó, dòng vốn tư nhân từ doanh nghiệp và người dân sẽ được kích hoạt, lan tỏa trong toàn hệ thống.
Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào hệ thống truyền tải để đưa điện về các đô thị, phát triển các hệ thống thủy điện tích năng quy mô lớn và pin lưu trữ để đảm bảo nguồn cung ổn định. Tất cả các công nghệ này đều đã sẵn có trên thị trường, chi phí thấp và dễ triển khai, và Úc đã chứng minh có thể làm được trên thực tế.
GS. Blakers cũng nêu một đặc điểm đáng chú ý của Việt Nam là tiềm năng rất lớn về thủy điện tích năng ngoài sông. Đây là thuật ngữ chỉ một dạng "pin nước" khổng lồ, lưu trữ năng lượng bằng cách bơm nước từ hồ thấp lên hồ cao trong giờ thấp điểm và xả nước phát điện vào giờ cao điểm.
Theo giáo sư Úc, Việt Nam có đến khoảng 6.000 địa điểm phù hợp, hơn gấp khoảng 200 lần nhu cầu thực tế. Việt Nam đã có nền tảng vững chắc với hệ thống thủy điện hiện hữu và đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm. Điều cần thiết là sớm khởi động các dự án quy mô lớn để hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi xanh, ông kết luận.
Như Thanh Niên đã đưa tin, trận đấu trở nên đặc biệt căng thẳng từ phút 90+1, khi Thanh Nam (CLB Thanh Hóa) có pha phạm lỗi với Wesley Nata sát đường biên. Ở vị trí rất gần tình huống, HLV Velizar Popov lập tức có phản ứng mạnh với trọng tài thứ 4 Ngô Duy Lân.
Căng thẳng nhanh chóng leo thang, buộc tiền đạo Rimario – học trò cũ của ông tại CLB Thanh Hóa – phải chạy đến can ngăn, ôm vị HLV người Bulgaria để hạ nhiệt tình hình. Tuy nhiên, sự việc chưa dừng lại. Đến phút 90+3, trọng tài chính Nguyễn Viết Duẩn rút thẻ vàng cảnh cáo HLV Popov vì những phản ứng gay gắt.
Quyết định này càng khiến chiến lược gia của Thanh Hóa mất bình tĩnh, tiếp tục lao về phía trọng tài với thái độ giận dữ. Chỉ một phút sau, ở phút 90+4, ông Duẩn rút thẻ vàng thứ hai, đồng nghĩa truất quyền chỉ đạo đối với HLV Popov. Đỉnh điểm của hành vi thiếu kiềm chế diễn ra ở phút 90+5, khi nhà cầm quân này rời khu kỹ thuật trong trạng thái bức xúc, ném thẻ tác nghiệp về phía cabin rồi ngồi xuống với vẻ mặt đầy thất vọng.
Đáng chú ý, hành vi của HLV Popov cũng giống với hành vi ném thẻ và phản ứng trọng tài của lãnh đạo CLB CAHN cách đây 2 năm. Sau trận gặp Bình Dương tại vòng 8 V-League 2023 – 2024, vị lãnh đạo này cũng từng bị xử phạt nặng vì hành vi tương tự.
Về trường hợp của HLV Popov, Công ty VPF sẽ tổng hợp báo cáo gửi Ban Kỷ luật VFF để xem xét mức án bổ sung. Ngoài thẻ đỏ phải nhận trong trận, HLV Popov đối diện nguy cơ bị phạt tiền khoảng 20 triệu đồng, đồng thời bị đình chỉ làm nhiệm vụ từ 4 đến 5 trận do hành vi lăng mạ, xúc phạm trọng tài và ban tổ chức, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh giải đấu. Đáng nói, trọng tài Nguyễn Viết Duẩn cũng chính là người từng rút thẻ đỏ với lãnh đạo CLB CAHN cách đây 2 năm.