Ngày 17-4, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành kế hoạch truyền thông quảng bá hình ảnh tỉnh ra nước ngoài giai đoạn 2026 – 2030, hướng đến xây dựng hình ảnh địa phương năng động, giàu bản sắc, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế.
Đây được xem là giải pháp để biến “lợi thế du lịch cực lớn thành tiền”.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, hoạt động truyền thông đối ngoại được triển khai chủ động, đồng bộ và thống nhất. Tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành hệ thống thông điệp và bộ nhận diện hình ảnh vào năm 2028, làm nền tảng cho các hoạt động quảng bá lâu dài.
Quảng Ngãi phấn đấu tăng ít nhất 20% lượng thông tin tích cực trên truyền thông quốc tế. Điểm mới của kế hoạch là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, lan tỏa nội dung. Các sự kiện văn hóa, du lịch sẽ được số hóa, quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube và TikTok.
Nội dung truyền thông được xây dựng theo hướng đa ngôn ngữ, lồng ghép câu chuyện văn hóa, con người và sự đa dạng bản sắc của địa phương.
Tỉnh cũng huy động sự tham gia của doanh nghiệp, người có ảnh hưởng và cộng đồng người Quảng Ngãi ở nước ngoài trong vai trò lan tỏa hình ảnh. Các sở, ngành tăng cường phối hợp, lồng ghép quảng bá tại các sự kiện đối ngoại, hội chợ quốc tế và các chương trình kết nối du lịch.
Quảng Ngãi kỳ vọng nâng cao nhận diện trên trường quốc tế, góp phần thu hút đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Sau khi hợp nhất với Kon Tum từ 1-7-2025, Quảng Ngãi không chỉ mở rộng địa giới mà còn “mở biên độ” phát triển du lịch. Từ biển đảo đến cao nguyên, từ nắng gió duyên hải đến sương mù đại ngàn, địa phương này đang sở hữu chuỗi trải nghiệm hiếm nơi nào có được.
Ở phía đông là đảo tiền tiêu Lý Sơn với làn nước trong xanh, bãi đá nham thạch đặc trưng; phía tây mở ra vùng cao nguyên mát lành như Măng Đen, nơi được ví như “Đà Lạt thứ hai” của Tây Nguyên.
Sự kết nối này giúp du khách có thể trải nghiệm hành trình “hai trong một” sáng săn mây giữa rừng thông, chiều tắm biển và ngắm hoàng hôn trên đảo. Một hành trình ngắn nhưng gói trọn hai thế giới thiên nhiên đối lập.
Không chỉ đa dạng về cảnh quan, Quảng Ngãi mới còn sở hữu hệ sinh thái phong phú với rừng nguyên sinh, thác nước, núi cao như Ngọc Linh “nóc nhà” của miền Trung – Tây Nguyên. Đây là nền tảng để phát triển mạnh các loại hình du lịch sinh thái, trekking, nghỉ dưỡng gắn với thiên nhiên.
Song song đó, khí hậu cũng là một lợi thế rõ rệt. Nếu vùng ven biển mang đặc trưng nắng ấm quanh năm thì khu vực cao nguyên lại có thời tiết mát mẻ, phù hợp nghỉ dưỡng. Sự bổ sung này giúp du lịch Quảng Ngãi giảm tính mùa vụ, kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Một điểm cộng khác là không gian văn hóa đa dạng. Sau hợp nhất, địa phương hội tụ nhiều cộng đồng dân tộc với bản sắc riêng, từ văn hóa biển đảo đến văn hóa cồng chiêng, nhà rông Tây Nguyên. Đây được xem là “chất liệu sống” để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm.
Cùng với đó, trục kết nối đông – tây đang dần hoàn thiện, mở ra các tuyến du lịch liên hoàn từ biển lên rừng. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hành trình từ Lý Sơn đến Măng Đen sẽ không còn là chuyến đi dài ngày mà có thể trở thành tour ngắn, linh hoạt.
Với lợi thế “một tỉnh, hai không gian sinh thái”, Quảng Ngãi dễ dàng định vị thương hiệu du lịch trong thời gian tới.
Du lịch Quảng Ngãi sau hợp nhất được kỳ vọng sẽ bứt phá, trở thành điểm đến mới nổi cho du khách trong và ngoài nước. Con số 1,7 triệu khách, thu 1.600 tỉ đồng trong 3 tháng đầu năm đã chứng minh sức hút của Quảng Ngãi đang lớn dần.
Theo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 (TP HCM và Đồng Nai), dòng kiều hối có xu hướng giảm từ quý IV/2025 sang đầu năm nay.
Trong quý cuối năm 2025, lượng kiều hối chuyển về đạt gần 2,4 tỷ USD, giảm 13% so với quý liền kề. Bước sang quý I/2026, con số này hạ xuống còn trên 2 tỷ USD.
Bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2, cho biết điều này phản ánh tác động từ kinh tế quốc tế, trong nước và các yếu tố địa chính trị. Theo bà, kinh tế thế giới phục hồi chậm cùng lạm phát cao làm tăng chi phí sinh hoạt, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người Việt ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài tại các nền kinh tế lớn tiếp tục tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến thu nhập và dòng tiền chuyển về Việt Nam.
Xung đột địa chính trị tại Trung Đông cũng góp phần tác động đến dòng kiều hối, khi làm gia tăng biến động giá năng lượng và áp lực lạm phát toàn cầu. Việc này ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của người lao động.
Chua kể, hoạt động kinh tế gián đoạn cục bộ tại một số nước ở khu vực này cũng làm giảm thu nhập và khả năng gửi tiền về của lao động Việt. Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, do tỷ trọng kiều hối từ khu vực này không lớn nên tác động chủ yếu mang tính gián tiếp.
Bà Liên nhận định thêm, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định nhưng một số kênh đầu tư chưa thực sự hấp dẫn dòng vốn kiều hối. Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD không lớn cũng phần nào ảnh hưởng đến quyết định chuyển tiền về nước.
Ngoài ra, yếu tố mùa vụ sau cao điểm chuyển tiền dịp cuối năm phục vụ nhu cầu chi tiêu lễ, Tết khiến lượng kiều hối trong quý đầu năm thường giảm.
Dự báo trong thời gian tới, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng kiều hối có thể chưa tăng rõ rệt do còn phụ thuộc vào diễn biến kinh tế trong và ngoài nước. Thông thường, sau giai đoạn thấp điểm đầu năm, kiều hối có xu hướng phục hồi nhẹ trong các quý tiếp theo khi hoạt động kinh tế và việc làm của lao động ở nước ngoài dần ổn định trở lại.
Tuy nhiên, diễn biến xung đột tại Trung Đông và các khu vực khác vẫn phức tạp, tiếp tục tác động đến giá năng lượng, lạm phát và tâm lý thị trường. Việc này ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng tích lũy của kiều bào.
Cũng theo Ngân hàng Nhà Nước, tại Đồng Nai, tính đến hết 31/3, kiều hối chủ yếu được chuyển qua các tổ chức tín dụng cũng giảm hơn 16% so với quý trước, xuống 36,4 triệu USD.
Trong bối cảnh này, nhiều sự chú ý dồn vào một tổ chức quốc tế được thành lập ngay sau kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II với mục tiêu tối thượng là bảo vệ an ninh và hòa bình quốc tế. Đó là Liên hợp quốc (LHQ) với Hội đồng Bảo an (HĐBA) - nơi mà trong quá khứ đã tiến hành nhiều chiến dịch gìn giữ hòa bình ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới.
Cho đến hiện tại HĐBA đã nhóm họp hai lần về tình hình hiện tại ở Trung Đông. Lần đầu tiên vào ngày 11-3-2026 và thông qua một nghị quyết lên án hành vi tấn công các nước trong vùng Vịnh Ba Tư của Iran.
HĐBA nhóm họp lần hai vào ngày 7-4-2026 và thất bại trong việc thông qua một nghị quyết về an ninh eo biển Hormuz. Sự khác biệt lớn về kết quả của hai lần họp ở HĐBA có thể được giải thích dựa trên các yếu tố pháp lý xung quanh việc sử dụng vũ lực trong dự thảo của các nghị quyết.
Hiến chương LHQ nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của các quốc gia thành viên. Quy định này nằm trong điều 2 khoản 4 - một trong những trụ cột pháp lý của Hiến chương về việc đảm bảo hòa bình thế giới.
Tuy nhiên Hiến chương cũng công nhận ngoại lệ cho quy định này, và chỉ có hai trường hợp các quốc gia được sử dụng vũ lực một cách hợp pháp trong khuôn khổ luật pháp của LHQ.
Ngoại lệ thứ nhất là việc sử dụng vũ lực trong việc tự vệ khi các quốc gia bị tấn công vũ trang bởi các quốc gia khác. Quyền tự vệ đơn phương hoặc tập thể này được ghi nhận tại điều 51 của Hiến chương LHQ.
Thông thường đây là một ngoại lệ chính đáng và chính danh về mặt pháp lý khi các quốc gia bị xâm phạm lãnh thổ bằng vũ trang bởi lực lượng quân sự của các quốc gia khác.
Đây là lý do tại sao các quốc gia vùng Vịnh bao gồm Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Jordan đã đề xuất một dự thảo nghị quyết HĐBA LHQ vào ngày 11-3-2026.
Trong dự thảo nghị quyết này, họ yêu cầu sự công nhận quyền tự vệ khi Iran đã tiến hành các cuộc tấn công vũ lực vào lãnh thổ của họ.
Nghị quyết cũng kêu gọi ngừng bắn, yêu cầu Iran phải tôn trọng luật pháp quốc tế và không làm ảnh hưởng đến an ninh quốc tế.
Có thể thấy rằng ngôn ngữ sử dụng trong dự thảo nghị quyết ngày 11-3 về việc sử dụng vũ lực để tự vệ của các quốc gia Vùng Vịnh là hợp lý về mặt pháp lý lẫn chính trị. Do đó nghị quyết đã được thông qua.
Nga và Trung Quốc không bỏ phiếu phản đối, mặc dù Nga đã phát biểu Mỹ và Israel cũng cần phải bị lên án cho cuộc chiến tranh lần này.
Ngoại lệ thứ hai của việc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận trong chương VII của Hiến chương LHQ. Đó là việc Hội đồng Bảo an LHQ cho phép các quốc gia thành viên sử dụng vũ lực với mục đích bảo vệ an ninh và hòa bình thế giới.
Việc sử dụng các từ ngữ như "sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết" hay việc áp dụng quyền ủy thác sử dụng vũ lực của HĐBA được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng và hạn chế đến mức tối đa bởi các thành viên thường trực của HĐBA.
Trong dự thảo nghị quyết đưa lên HĐBA xem xét về vấn đề liên quan đến an ninh eo biển Hormuz, Bahrain đã kêu gọi quyền sử dụng vũ lực dựa trên chương VII của Hiến chương LHQ.
Việc này dẫn đến những tranh cãi dữ dội tại phiên họp của HĐBA, vì một số quốc gia cho rằng việc này sẽ dẫn đến việc lạm dụng nghị quyết của HĐBA để chính danh hóa việc sử dụng vũ lực trong khu vực vùng Vịnh. Điều này sẽ khiến xung đột leo thang.
Việc liên hệ đến chương VII của Hiến chương trong bản thảo nghị quyết sau đó được gỡ bỏ. Tuy nhiên việc đề cập đến quyền tự vệ (ngoại lệ thứ nhất của quy định cấm sử dụng vũ lực) khi các tàu thương mại bị tấn công ở eo biển Hormuz trong dự thảo lại dẫn đến những tranh cãi khác.
Việc một quốc gia bị tấn công vào lãnh thổ và bị tấn công vào tàu thuyền thương mại là khác nhau về mức độ nghiêm trọng để có thể lập luận rằng hai hành vi tấn công này đều có thể đương nhiên dẫn đến quyền tự vệ của một quốc gia.
Do những mâu thuẫn liên quan đến quyền sử dụng vũ lực ở eo biển Hormuz không thể giải quyết được, dự thảo nghị quyết HĐBA ngày 7-4-2026 đã không được thông qua khi Trung Quốc và Nga đã bỏ phiếu phản đối.
Điều này cho thấy việc sử dụng vũ lực luôn luôn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và gây tranh cãi khi HĐBA xem xét một nghị quyết về một xung đột quốc tế.
Khuôn khổ pháp lý xung quanh vấn đề này có thể không chấm dứt được căng thẳng tại khu vực eo biển Hormuz, nhưng ít nhất nó ngăn được sự leo thang của chiến tranh tại đây, tính cho đến thời điểm này.
Theo đơn kiến nghị được tập thể các doanh nghiệp, các nhà thầu đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu xây dựng thiết yếu như cát san lấp, đá các loại, nhựa đường và nhiên liệu vận hành máy móc.
Nguyên nhân chính được các doanh nghiệp chỉ ra là do nguồn lực vật liệu xây dựng tại địa phương đang tập trung ưu tiên cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm của quốc gia và của tỉnh, như các tuyến cao tốc và đường vành đai.
Điều này khiến các đơn vị thi công công trình địa phương gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vật liệu từ các mỏ được quy hoạch. Để duy trì tiến độ, nhiều doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn cung cấp thương mại thay thế, khiến chi phí thực tế thực hiện gói thầu có sự chênh lệch rất lớn so với dự toán ban đầu.
Bên cạnh áp lực về vật tư, công tác giải phóng mặt bằng cũng là "điểm nghẽn" lớn. Việc bồi thường, hỗ trợ tại một số dự án chưa nhận được sự đồng thuận hoàn toàn từ người dân, dẫn đến việc bàn giao mặt bằng không đồng bộ.
Tình trạng thi công bị gián đoạn, máy móc thiết bị phải nằm chờ mặt bằng không chỉ làm kéo dài thời gian hoàn thành dự án mà còn phát sinh chi phí quản lý, vận hành và lãi vay, đẩy nhiều doanh nghiệp có bề dày hoạt động hàng chục năm rơi vào tình trạng đình trệ.
Tập thể các doanh nghiệp cho biết nếu không có giải pháp tháo gỡ kịp thời, tiến độ các công trình kết nối hạ tầng giao thông và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nhằm duy trì hoạt động và đảm bảo chất lượng công trình, 32 doanh nghiệp xây dựng tại Đồng Tháp đã đề xuất UBND tỉnh xem xét hai nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, kiến nghị tỉnh và các ngành chức năng xem xét cơ chế điều chỉnh giá hợp đồng hoặc có chính sách hỗ trợ đối với các loại vật liệu có biến động lớn về chi phí so với thời điểm ký kết, đặc biệt là các loại vật tư nằm ngoài khả năng dự báo của doanh nghiệp.
Thứ hai, doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ, hướng dẫn tiếp cận trực tiếp các nguồn vật liệu như cát san lấp và đá xây dựng từ các mỏ trên địa bàn. Việc này giúp giảm bớt các khâu trung gian, đảm bảo nguồn cung ổn định để các đơn vị tập trung thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng.