“Tôi là người bị vướng rắc rối vì cái vụ nguyên quán kia khi giấy tờ mấy cháu nhỏ bị yêu cầu cập nhật, hoặc trước đây nhập vào không đúng.
Ba tôi sinh ra ở Quảng Ninh, và vào trong miền Nam từ lúc ông 5 tuổi. Đến bây giờ, nói thật, ba tôi có hỏi đường để về làng, nơi sinh ra thì chắc chắn 100% cũng không biết ông là ai.
Tôi sinh ở Đồng Nai, trong khai sinh, chứng minh nhân dân và bây giờ là căn cước công dân của tôi cũng ghi nguyên quán Quảng Ninh. Hiện tại là đời cháu, tức là con tôi, sinh ở TP HCM, vẫn giữ nguyên thông tin nguyên quán là Quảng Ninh.
Tôi cũng không hiểu ở ngoài đó gia đình tôi còn gì, hay ai đó ngoài đó biết gì về gia đình tôi? Trong khi lỡ có sai lệch một chút là giấy tờ không làm được. Thật là rắc rối, cái gì quan trọng thì ghi vào, không quan trọng thì bỏ ra”.
Độc giả nickname Mít Tơ Bin chia sẻ như trên, về câu chuyện nhiều thế hệ trong một gia đình vẫn mang cùng một quê quán trên giấy tờ, dù thực tế không còn bất kỳ mối liên hệ nào. Bình luận này được viết sau bài Quê quán để làm gì?,trong bài viết này, tác giả trình bày rằng người lớn cũng dễ nhầm lẫn giữa các khái niệm như nơi sinh, nơi cư trú, thường trú, tạm trú, quê quán hay nguyên quán dù chúng có ý nghĩa pháp lý khác nhau.
Nơi cư trú là nơi đang sinh sống, gồm thường trú và tạm trú; nơi sinh là địa điểm được ghi trên giấy khai sinh và không thay đổi.
Trong khi đó, quê quán là thông tin bắt buộc trên giấy khai sinh và trong dữ liệu dân cư nhưng chưa có định nghĩa rõ ràng, chủ yếu xác định theo quê cha hoặc mẹ. Còn nguyên quán là khái niệm mơ hồ hơn, thường được hiểu là quê gốc của ông bà và hiện ít sử dụng.
Độc giả Hằng kể: “Bố chồng tôi sinh ra và lớn lên ở Nam Định, sau đó lên Hà Nội năm 18 tuổi và lấy vợ ở Hà Nội. Chồng tôi sinh ra ở Hà Nội vẫn ghi quê quán Nam Định, giờ con trai tôi cũng sinh ở Hà Nội vẫn ghi mục quê quán Nam Định.
Chồng tôi và con trai tôi không có khái niệm về quê quán mấy vì bố chồng tôi có hai anh em, mọi người tản mát đi thoát ly nơi khác nên ít gặp nhau. Vậy, thử hỏi cái quê quán Nam Định ấy phải ghi đến đời thứ bao nhiêu mặc dù không có khái niệm gì về nơi ông, cụ mình sinh ra”.
Tương tự, độc giả nickname Hannah: “Bố tôi và tôi đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng quê quán thì vẫn ghi theo quê gốc của ông nội, và các con tôi cũng sẽ như vậy mặc dù các cháu (thậm chí cả tôi) không có ký ức hay kỷ niệm nào với nơi đó (do ông bà đều không còn nhà ở quê và cũng không còn họ hàng thân thiết ở quê gốc nữa).
Mỗi lần bạn bè hỏi quê ở đâu, tôi cũng không biết trả lời sao cho đúng, nói là Hà Nội lại bảo mất gốc, mà nói ở quê quán lại thấy sai sai”.
Vấn đề càng trở nên phức tạp trong môi trường giáo dục và quản lý hồ sơ, độc giả Phạm Minh nói: “Đúng là vấn đề nan giải, giáo viên chủ nhiệm các cấp và quản lý cũng đang đau đầu vấn đề này. Ví dụ như nơi sinh, chưa có hướng dẫn ghi thế nào, có em học sinh được ghi trên giấy khai sinh là bệnh viện mình sinh ra, có em ghi nơi bố mẹ ở khi sinh ra mình.
Còn quê quán và nguyên quán mới đau đầu. Quê quán mà ghi nơi bố sinh ra thì nếu bố lại ghi theo bệnh viện mình sinh ở tận bệnh viện lớn do gia đình đưa lên thì sao?
Hay là ghi theo quê của bố? Nếu cứ ghi theo quê quán của bố thì có khi đến 10 đời nữa mặc dù họ ở qua hết các tỉnh thành thì vẫn chỉ ghi một quê vì cứ truyền lại cho nhau theo tính chất bắc cầu: quê ông là quê bố, quê bố là quê con, quê con là quê cháu… Qua nhiều đời sẽ nhiều thế hệ không còn biết ai ở quê đó nữa nhưng vẫn ghi như vậy thì rất vô lý”.
Độc giả hieuleminhbloc:
“Tôi xin trích dẫn nguyên một đoạn mà cô giáo chủ nhiệm lớp 12 của con tôi gửi cho quý phụ huynh (QPH) như sau:
‘Kính gửi QPH, thông tin học sinh, mỗi bạn sẽ nằm ở 2 trang, kính nhờ QPH cùng tham gia dò lại thật chính xác, vì đây là dữ liệu ký số gửi về Bộ, mọi sai sót sau này nếu PH không dò kỹ sẽ không thể thay đổi và phải chịu trách nhiệm. QPH nói cho các con tổ/thôn/xóm theo quê quán đầy đủ để các con báo lại với cô vào ngày mai. Các mục khác nếu sai chỗ nào QPH nhắn tin riêng cho GVCN trong hôm nay. Trân trọng cảm ơn QPH’.
Bản thân tôi còn không biết tổ/thôn/xóm của cái gọi là quê quán thì làm sao con tôi biết? Hơn 50 năm từ ngày sinh ra đã không sinh ở nơi gọi là “quê quán” thì làm sao biết được những thay đổi về địa giới ở nơi đó.
Mỗi lần mấy đứa nhỏ phải khai báo những thông tin liên quan đến quê quán thì mình thấy càng áp lực và bức xúc vì thấy việc yêu cầu thông tin ngày càng chi tiết hơn, trong khi từ ngày xưa lúc còn nhỏ mình còn không phải khai báo thế này”.
Trong khi đó, một số độc giả lại nghĩ khác. Độc giả nickname simpler1981 nói:
“Quê quán trên trường dữ liệu cá nhân là hình thức minh bạch đâu là quê hương của một cá nhân. Đối với nhiều người, quê hương là một phạm trù thiêng liêng, trân quý, là cội nguồn truyền thống.
Tôi nghĩ không có lý do gì để loại bỏ trường thông tin ‘quê quán’ trên dữ liệu cá nhân; điều quan trọng là cần minh bạch, cụ thể, thống nhất cách xác định quê quán của mỗi cá nhân”.
Đồng tình, độc giả nickname hoanghai.ats: “Xin hỏi nếu không có quê quán thì khi bạn cần xác minh nguồn gốc bạn dựa vào cái gì? Có một số ngành nghề khi con em đăng ký thi cần được xác minh các đời trước nữa đấy. Mình nghĩ có vẻ tác giả không có quê xa hay chưa phải gặp trường hợp làm giấy tờ cần nhiều thủ tục xác minh.
Ngoài ra, về cách hiểu, quê quán nó không chỉ là một nét văn hóa mà còn là trách nhiệm của thế hệ trước chỉ dẫn, truyền đạt cho thế hệ tiếp theo biết về nguồn gốc cũng như văn hóa của quê mình, đừng chỉ lo chạy theo cơm áo gạo tiền mà quên đi nguồn cội”.
Độc giả Lê Hoàng đề xuất: “Đầu tiên, cần có định nghĩa và giải thích rõ để tất cả mọi người hiểu và ghi cho đúng bởi hiện có nhiều cách hiểu và ghi khác nhau, ví dụ: có người cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của ông bà nội, có người lại cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của bố mẹ…
Ngay cả trẻ em hoặc những người lần đầu phải khai hồ sơ cũng đều phân vân khi ghi quê quán bởi có bố mẹ sinh ra lớn lên ở Hà Nội và bản thân sinh ra ở Hà Nội nhưng vẫn ghi quê quán theo bố mẹ trước đây đã từng ghi (tức là căn cứ theo ông bà, cụ kỵ…). Sau này, các đời kế tiếp mặc dù tiếp tục sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng vẫn mặc định ghi bắt buộc như đời trước đã từng ghi.
Vậy nên có chuyện vui là có nhiều người căn cứ vào quê quán ghi trong hồ sơ và đến nhận đồng hương (hoặc xin tham gia vào các hội đồng hương), thậm chí bảo là cùng xã, cùng huyện nhưng thực tế mấy đời nay đã sống ở Hà Nội, đâu có biết quê quán có xã, có huyện đó ở đâu đâu?
Tiếp đến, đó là mục đích quản lý thông tin phần quê quán để làm gì? Để thống kê về việc di dân, chuyển địa bàn sinh sống hay để xác định gốc gác nhân thân của người dân? Còn nếu đây chỉ là việc từ xưa để lại và đến nay không thấy có giá trị gì thì đề xuất xem xét bỏ”.
Ghi nhận của Tuổi Trẻ Online, tình trạng chó thả rông, không rọ mõm, phóng uế bừa bãi xuất hiện khắp nơi, từ công viên Gia Định đông đúc đến dọc bờ kè kênh Nhiêu Lộc...
Tại công viên Gia Định, chỉ trong buổi chiều thứ Bảy (18-4), hàng chục chú chó xuất hiện khắp công viên mà không có dây xích, rọ mõm. Chúng còn tìm đến gốc cây, bãi cỏ để phóng uế.
Đây cũng là thời điểm tập trung rất đông người dân đến công viên dạo mát, chạy bộ tập thể dục.
Đôi khi, những con chó này gặp nhau, tụ tập thành đàn rồi tự do chạy nhảy lộn xộn làm ảnh hưởng tới nhiều người dân xung quanh.
Đáng nói, ban quản lý công viên cũng lắp đặt bảng nội quy không dắt thả vật nuôi. Trong khi đi kiểm tra, nhân viên bảo vệ cũng nhắc nhở người dân không được mang chó vào công viên. Tuy nhiên tình trạng chó thả rông vẫn diễn ra thường xuyên.
Thường xuyên cùng con đến chơi ở công viên, chị Như Thanh (phường Hạnh Thông) nói bức xúc với tình trạng trên.
Theo chị Thanh, chó vào công viên lúc nào cũng phải được rọ mõm, có người dắt thì mới đảm bảo an toàn cho người xung quanh, đặc biệt là trẻ em.
"Thậm chí tôi còn thấy nhiều người dắt chó vào công viên chỉ để có chỗ cho chúng phóng uế rồi ra về", chị Thanh nói.
Còn dọc theo bờ kè kênh Nhiêu Lộc, tình trạng chó thả rông cũng diễn ra tương tự. Nhiều chó không bị rọ mõm, dây đeo cổ tự do đi lại dọc kênh rồi phóng uế bừa bãi ngay giữa đường đi.
Không còn là "phim cho trẻ em", hoạt hình ngày nay chinh phục khán giả mọi lứa tuổi bằng ký ức, cảm xúc và những câu chuyện mang tính phổ quát. Ở thời điểm hiện tại, thể loại này đã đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với mọi dòng phim khác.
Trong thời gian dài, phim hoạt hình thường bị xem là "vùng an toàn" dành cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên thực tế tại phòng vé toàn cầu cho thấy điều ngược lại: Hoạt hình đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng mạnh nhất của điện ảnh.
Tại Nhật Bản, Thanh gươm diệt quỷ: Vô hạn thành (Demon Slayer: Infinity Castle) khép lại hành trình chiếu rạp nội địa với hơn 400 tỉ yen, đồng thời đạt tổng doanh thu toàn cầu hơn 1.179 tỉ yen.
Đây là anime (phim hoạt hình Nhật Bản) có doanh thu cao nhất mọi thời đại và nằm trong nhóm phim ăn khách nhất thế giới năm 2025.
Thành công này cho thấy anime đã vượt khỏi biên giới quốc gia để trở thành một "ngôn ngữ kể chuyện toàn cầu".
Những câu chuyện về tình thân, mất mát hay hành trình trưởng thành của Tanjiro không còn giới hạn ở văn hóa bản địa mà có thể chạm đến khán giả ở hàng trăm quốc gia.
Nếu Thanh gươm diệt quỷ đại diện cho sức mạnh của nội dung, thì Doraemon: Tân Nobita và lâu đài dưới đáy biển lại cho thấy vai trò đặc biệt của ký ức. Phần phim thứ 45 của Doraemon giữ vị trí số 1 phòng vé Nhật trong nhiều tuần, tiến gần mốc 4 tỉ yen. Thành công của phim không nằm ở yếu tố đột phá mà ở khả năng kết nối các thế hệ.
Những khán giả từng xem bản phim năm 1983 nay đã trở thành cha mẹ. Họ đưa con đến rạp không chỉ để xem phim, mà còn để chia sẻ một phần tuổi thơ của mình. Những khoảnh khắc cùng cười, cùng xúc động trong rạp chiếu trở thành một dạng ký ức mới, được tạo nên từ chính ký ức cũ. Không ít phụ huynh chia sẻ họ đã rơi nước mắt khi xem phim cùng con. Sự lan tỏa cảm xúc này là điều mà không chiến dịch marketing nào có thể thay thế.
Trước đây thành công của một bộ phim hoạt hình thường được đo bằng doanh thu thì giờ đây hoạt hình còn tiến xa hơn thế: trở thành một phần của đời sống văn hóa.
Sau chiến thắng tại Oscar, K-pop Demon Hunters (chiếu trên Netflix) nhanh chóng tiếp tục tạo hiệu ứng khi hợp tác với McDonald's, đưa các yếu tố văn hóa Hàn Quốc vào thực đơn toàn cầu.
Những combo lấy cảm hứng từ phim - từ ramen đến sốt cay - không chỉ là chiến dịch quảng bá mà còn là một hình thức "xuất khẩu văn hóa". Đằng sau đó là những câu chuyện cá nhân với ký ức nghệ sĩ về gia đình, về tuổi thơ, về những bữa ăn bình dân gắn kết.
Điều này cho thấy hoạt hình không chỉ còn là một trải nghiệm xem mà đã trở thành một phần của đời sống, nơi khán giả có thể "chạm" vào câu chuyện theo nhiều cách khác nhau.
Sức nóng của hoạt hình còn thể hiện rõ qua cuộc cạnh tranh giữa các thương hiệu lớn. Thám tử lừng danh Conan Movie 29: Thiên thần sa ngã trên xa lộ thu hút hơn 2,3 triệu lượt khán giả chỉ trong 3 ngày đầu, đạt doanh thu 3,5 tỉ yen - kỷ lục mới của loạt phim.
Thành tích này cho thấy hoạt hình hoàn toàn có thể tạo hiệu ứng "bom tấn" ngay từ ngày đầu, điều trước đây thường chỉ thấy ở phim người đóng.
Tại Trung Quốc, Na Tra 2 vượt mốc 2 tỉ USD, trở thành phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại.
Đây không chỉ là thành công thương mại mà còn là minh chứng cho sức mạnh của những câu chuyện mang bản sắc văn hóa.
Trong khi đó Hollywood tiếp tục khai thác lợi thế thương hiệu với các dự án như Zootopia 2, nối tiếp thành công của Inside Out 2 hay các phim chuyển thể từ game như The Super Mario Galaxy Movie.
Điểm chung của các tác phẩm này là sự kết hợp giữa thế giới quen thuộc và câu chuyện mới, giữa giải trí và chiều sâu cảm xúc - yếu tố giúp chúng tiếp cận được nhiều khán giả khác nhau.
Những kỷ lục liên tiếp bị phá vỡ cho thấy hoạt hình đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ chưa từng có, nơi mỗi tác phẩm đều phải đủ mạnh để trở thành một sự kiện văn hóa mang tính toàn cầu. Quan trọng hơn, đây không còn là một thể loại đơn lẻ mà đã trở thành một hệ sinh thái kinh tế - văn hóa hoàn chỉnh.
Một bộ phim hoạt hình ngày nay được xây dựng như một tài sản trí tuệ có khả năng sinh lời dài hạn. Sau giai đoạn chiếu rạp, vòng đời doanh thu tiếp tục kéo dài qua Netflix hay Disney+, bản quyền truyền hình, game và đặc biệt là sản phẩm ăn theo.
Với các tập đoàn như The Walt Disney Company, doanh thu từ đồ chơi, thời trang hay công viên giải trí thậm chí có thể vượt xa phòng vé ban đầu. Nhờ cấu trúc khai thác nhiều tầng, một bộ phim có thể tiếp tục tạo giá trị kinh tế trong suốt 12 - 24 tháng, thậm chí lâu hơn - một lợi thế mà không nhiều thể loại điện ảnh khác có được.
Nếu xu hướng này tiếp tục, rất có thể trong tương lai gần phim hoạt hình không chỉ chiếm 1/4 thị trường mà còn trở thành một trong những "trụ cột doanh thu" quan trọng nhất của điện ảnh toàn cầu.
Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT xem xét và lấy ý kiến đóng góp. Trong đó, ngành sức khỏe là một trong những lĩnh vực có quy định cao về chương trình, giảng viên.
Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thực hiện nhiều chương trình đào tạo khác nhau. Cụ thể, chương trình đào tạo nói chung phải xác định định hướng đào tạo theo hướng học thuật/nghiên cứu hoặc chuyên nghiệp/ứng dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo và trình độ đào tạo.
Ngoài ra, các trường có thể cung cấp cho sinh viên chương trình đào tạo tích hợp; chương trình đào tạo liên ngành, xuyên ngành; chương trình đào tạo chuyên sâu; chương trình đào tạo song ngành, ngành chính – ngành phụ; chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng; chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giáo dục ĐH (được thiết kế độc lập hoặc là một cấu phần của chương trình đào tạo cấp văn bằng). Chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng có các chương trình như kỹ sư tài năng, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến và các chương trình tương tự.
Các chương trình đào tạo trên phải được xây dựng phù hợp với sứ mạng cụ thể, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện tại và dự báo của ngành, lĩnh vực; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chương trình đào tạo phải xác định bậc trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam; được thiết kế theo hướng bảo đảm khả năng tích lũy, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ, phù hợp với vị trí trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Ở tất cả các chương trình đào tạo, giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo; giảng viên thỉnh giảng chỉ đảm nhận tối đa 1/4 khối lượng giảng dạy.
Mỗi chương trình đào tạo (trừ khối ngành sức khỏe, pháp luật; kỹ thuật then chốt; ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, thể thao) phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, có chuyên môn ngành đúng, ngành gần hoặc ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì; trong đó luôn có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đặc biệt, giảng viên giảng dạy và người hướng dẫn thực hành các học phần liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề chuyên môn phù hợp với học phần được giao nhiệm vụ giảng dạy, có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm và đang hoặc đã từng làm việc trực tiếp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Trong khi đó, chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, quốc phòng, an ninh và ngành, lĩnh vực mới phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao phải có ít nhất 4 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Trong thời gian tối thiểu 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì phải có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus.
Với các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, giảng viên phải có sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích bao gồm cả tác phẩm, công trình, giải thưởng chuyên môn, huy chương tại các cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu thể thao do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế công nhận.