Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
“Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa”, ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói “mười năm chín hạn” (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất “sống ngâm da, chết ngâm xương”.
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: “Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm”.
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là “Đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải”. Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
“Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh”, ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. “Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá”, ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
“Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới”, ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
“Mong ước đó không biết có viển vông quá không?”, ông Sử tự hỏi.
Thông tin được ghi nhận tại báo cáo thị trường lao động quý 1 của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM (Sở Nội vụ). Nhu cầu tuyển dụng vượt khả năng cung ứng của thị trường, song doanh nghiệp vẫn hướng đến nhóm lao động trẻ hơn.
Từ dữ liệu của trụ sở chính và các điểm tiếp nhận, trung tâm ghi nhận hơn 52.600 người có nhu cầu tìm việc, trong khi doanh nghiệp cần tuyển tới 82.700 vị trí. Thị trường ở trạng thái "cầu vượt cung", nhưng phân bổ không đồng đều giữa các nhóm tuổi, trình độ và ngành nghề.
Nhóm 36–49 tuổi dẫn đầu nguồn cung với gần 21.000 người, tương đương gần 40%, cao hơn cả nhóm 25–35 tuổi, gần 38%.
Trong khi đó, phía nhà tuyển dụng, ở các vị trí yêu cầu độ tuổi, nhu cầu tuyển dụng dành riêng cho nhóm 36–49 tuổi chỉ ở mức 0,32%. Doanh nghiệp vẫn ưu tiên lao động trẻ 18–35 tuổi, với trên 41%.
Phân tích nguyên nhân, bà Nguyễn Văn Hạnh Thục, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM, cho biết nhóm lao động trung niên chiếm tỷ lệ cao trong số người tìm việc chủ yếu là những người đã tích lũy kinh nghiệm, có xu hướng chuyển việc để cải thiện thu nhập hoặc môi trường làm việc.
Trong khi đó, phân khúc thị trường đang thiếu nhân lực nhiều nhất lại là lao động phổ thông, chiếm hơn 33%, tương đương hơn 27.600 vị trí. Doanh nghiệp cũng không đặt nặng trình độ khi tới 82% nhu cầu tuyển dụng không yêu cầu bằng cấp hoặc chỉ từ trung học phổ thông trở xuống. Nhu cầu chủ yếu đến từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi ưu tiên lao động trẻ, dễ thích nghi với điều kiện sản xuất.
Sự lệch pha cung – cầu này khiến không ít lao động trung niên gặp khó khăn, bởi dù có kinh nghiệm. Nhiều người không còn phù hợp với nhu cầu mới, nhất là ở các ngành sản xuất, kỹ thuật đòi hỏi kỹ năng thực hành và khả năng tiếp cận công nghệ.
Tuy nhiên, theo bà Thục, đây chưa hẳn là tín hiệu đáng lo. Với nhóm lao động có kinh nghiệm và trình độ, cơ hội việc làm vẫn đến từ các mối quan hệ cá nhân hoặc kênh tuyển dụng riêng. Ngoài ra, Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM ghi nhận hơn 58% vị trí, tương đương khoảng 48.000 việc làm, không giới hạn độ tuổi, mở ra cơ hội cho lao động trung niên.
Một số ngành như sản xuất, cơ khí, bảo trì, vận hành máy vẫn thiếu nhân lực tay nghề cao, phù hợp với nhóm lao động giàu kinh nghiệm. Lĩnh vực bán hàng, dịch vụ cũng có khả năng tiếp nhận lao động phổ thông thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn.
Dự báo trong quý 2, nhu cầu tuyển dụng tiếp tục dao động 60.000-75.000 vị trí khi doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, nguồn cung có thể giảm nhẹ do người lao động có xu hướng ưu tiên ổn định sau giai đoạn biến động đầu năm.
Ngày 6/4, trang Guardian có bài phỏng vấn Sean Hepburn Ferrer - con lớn của diễn viên Audrey Hepburn, dịp ông ra mắt quyển tiểu sử mới về bà. Sách mang tên Intimate Audrey (tạm dịch: Audrey Thân quen), ra mắt trên thị trường quốc tế từ ngày 7/4.
Sean Hepburn Ferrer sinh năm 1960, là con của minh tinh và chồng đầu tiên - đạo diễn, diễn viên Mel Ferrer, hiện là nhà sản xuất phim. Trò chuyện với trang tin, ông cho biết tác phẩm đem đến góc nhìn "hậu trường" của một trong những bóng hồng nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Trong đó, ông tập trung khía cạnh khác của mẹ khi bà xuất hiện trong những bữa tối gia đình.
Sean, hiện 66 tuổi, nói chưa từng thấy bản thân là con trai của một ngôi sao điện ảnh bởi ông có một tuổi thơ bình thường tại Thụy Sĩ và Rome, rất xa Hollywood. Về mẹ của mình, tác giả cho biết bà có những ưu tiên bình dị. "Mẹ tôi nhận ra cuộc sống ngắn ngủi, phù du và mong manh. Bạn không thể muốn có một mái ấm rồi khi nó đến, bạn không thể nỗ lực hết mình để vun vén", ông nói.
Theo Guardian, hầu hết phim kinh điển của Audrey Hepburn gồm Breakfast at Tiffany's (1961) ra rạp trước khi con trai lớn 10 tuổi. Đến khi Sean 14 tuổi, ông mới nhận ra mẹ không chỉ là diễn viên mà còn là tên tuổi lớn. Ngày nhỏ, ông từng lấy bộ sưu tập phim 16mm của mẹ, tự mở liên hoan phim Audrey Hepburn cho riêng mình trên gác mái. Thi thoảng, diễn viên ghé qua, hỏi con trai nghĩ gì về bộ phim. Bất cứ điều gì ông nói thích, bà đều cho rằng công thuộc về đạo diễn hoặc bạn diễn.
Năm 2003, Sean xuất bản một ấn phẩm về mẹ - Audrey Hepburn: An Elegant Spirit (Audrey Hepburn: Một tinh thần thanh lịch), khắc họa những nội tâm của bà từ cảm xúc, triết lý sống. Nhưng từ lâu, ông được yêu cầu viết một cuốn khác toàn diện hơn để khép lại câu chuyện đời bà. Vì thế, Intimate Audrey là quyển tiểu sử đầy đủ đầu tiên về diễn viên, do ông viết cùng cựu phóng viên chiến trường Wendy Holden. Màn hợp tác cũng mang ý nghĩa đặc biệt. "Cuộc đời mẹ tôi bắt đầu bằng chiến tranh, kết thúc bằng chiến tranh", ông nói thêm.
Minh tinh Audrey Hepburn sinh năm 1929 tại Bỉ. Bà có cha là thương gia người Anh Joseph Ruston, còn mẹ là Nữ nam tước Hà Lan Ella van Heemstra. Năm 1935, cuộc hôn nhân của cha mẹ tan vỡ khiến Audrey đau khổ. Sau đó, bà đến Anh học tập với hy vọng thi thoảng gặp lại cha.
Khi Thế chiến II nổ ra, mẹ gọi Audrey về Hà Lan vì nghĩ đây sẽ là nơi an toàn, nhưng bà Ella đã nhầm. Trong thời gian dài bị Đức quốc xã chiếm đóng, gia đình chịu nhiều trận bom oanh tạc, nạn đói khiến bà suy dinh dưỡng. Cả nhà sống qua ngày nhờ củ cải turnip héo, bánh mì nướng từ bột củ hoa tulip. Theo Guardian, dáng đứng thẳng nổi tiếng của minh tinh không chỉ là kết quả của những năm tháng học ballet, còn do một mảnh đạn găm vào cổ bà trong một cuộc không kích. Tai nạn ấy đã hạn chế khả năng vận động của bà vĩnh viễn.
Audrey cũng chứng kiến nhiều hành vi bạo lực nhắm vào cộng đồng Do Thái. Khi còn là thiếu niên, bà tổ chức nhiều buổi diễn múa để gây quỹ cho những người đang lẩn trốn, truyền tin cho phong trào kháng chiến. Nhưng trước chiến tranh, cha mẹ bà là những người ủng hộ chủ nghĩa phát xít, từng chụp ảnh với nhà độc tài Adolf Hitler. "Tôi không nghĩ mẹ có thể hóa giải khúc mắc đó. Tôi cho rằng bà đã chấp nhận con người thật của cha mẹ mình, giữ lại những gì bà có thể chọn và làm những gì bản thân thấy đúng", Sean Hepburn Ferrrer nhận định.
Sau chiến tranh, bà làm vũ công ballet ở London, đóng vài vai nhỏ ở Anh. Trong một lần quay phim ở Monte Carlo, Audrey Hepburn thu hút sự chú ý của tiểu thuyết gia Colette - người mời bà sang Mỹ đóng kịch Broadway. Guardian cho rằng cột mốc đánh dấu bước ngoặt thay đổi đời Audrey là khi được chọn vào phim Roman Holiday, giành Nữ chính xuất sắc Oscar 1954 ở tuổi 25.
Nghệ sĩ hiện là một trong số ít người thắng EGOT (viết tắt của bốn giải thưởng nghệ thuật danh giá nhất nước Mỹ gồm Emmy, Grammy, Oscar và Tony). Nhìn lại sự nghiệp của bà, Sean nhận định thành công của mẹ đến từ "phong thái, sự nhạy cảm khó nắm bắt của người châu Âu". Ông đã dành hàng chục năm nghĩ điều gì làm nên danh tiếng của mẹ, chọn ra ba lý do. Thứ nhất, bà có sự tươi trẻ và tự nhiên khi diễn xuất. Thứ hai, bà có phong cách thời trang trẻ trung, thanh lịch giữa thế kỷ 20. Cuối cùng, hình ảnh của bà gắn liền các hoạt động nhân đạo, từng là đại sứ thiện chí của UNICEF những năm 1980 và 1990.
Cuối thập niên 1960, Audrey Hepburn dần rời bỏ màn ảnh, tập trung vào gia đình. Sau khi ly hôn Mel Ferrer, bà đi bước nữa với bác sĩ tâm thần người Italy Andrea Dotti năm 1969. Một năm sau, Audrey có con trai thứ hai - Luca Dotti. Cũng trong quyển sách, Sean Hepburn Ferrer viết về khuyết điểm của những đàn ông đi qua cuộc đời bà. Theo Sean, mối quan hệ giữa mẹ và cha ông quý giá nhất nhưng cũng cam go nhất. Trong khi đó, Dotti là "bạn đời dễ chịu nhất, dù không hoàn toàn đáng tin". Bạn trai sau này của bà - diễn viên Hà Lan Robert Wolders - "đáng yêu nhưng nhu nhược".
Tuy nhiên, tác giả trăn trở một số chi tiết, nhất là chuyện ngoại tình của Dotti. Ông nghĩ mình vừa phản bội người mà ông biết sẽ không bao giờ công khai chuyện này, vừa cảm thấy phải đứng về phụ nữ. Trong sách, ông kể chuyện tìm thấy mẹ bất tỉnh trên giường với lọ thuốc ngủ rỗng bên cạnh, cho biết sự đổ vỡ hôn nhân lần thứ hai quá sức chịu đựng của bà.
Năm 1993, Audrey Hepburn qua đời ở tuổi 63 vì mắc bệnh ung thư hiếm. Bốn tháng trước đó, bà đến Somalia với UNICEF để thăm trẻ em ở vùng chịu xung đột. Dù trải qua nhiều thăng trầm, bà từng nói với con trai rằng cuộc đời bà rất nhàm chán, từ chối viết hồi ký.
Khép lại bài phỏng vấn, Sean cho biết mong mọi người nhận ra mẹ ông không chỉ gắn liền với những bộ phim, tấm áp phích. Ông muốn mang hình ảnh của mẹ trở lại đời thực để công chúng hiểu sâu hơn về bà. Tác giả nói: "Mẹ tôi là một người bình thường, chân thật. Đó là lý do tôi ra mắt quyển sách này".
Trao đổi với báo chí chiều 9/4, ông Nguyễn Thế Minh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, cho biết 4 dự án thành phần qua miền Trung gồm Quảng Ngãi - Hoài Nhơn, Hoài Nhơn - Quy Nhơn, Quy Nhơn - Chí Thạnh, Chí Thạnh - Vân Phong đang hoàn thiện thủ tục nghiệm thu và bổ sung hệ thống an toàn giao thông để đưa vào khai thác trong tháng 4.
Đoạn cao tốc qua các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Khánh Hòa đã hoàn thành 256 km tuyến chính, còn khoảng 12 km xử lý nền đất yếu. Dự kiến giữa tháng 4 sẽ khai thác đoạn từ đầu tỉnh Quảng Ngãi đến phía nam hầm Cù Mông, trước khi toàn tuyến được vận hành vào cuối tháng.
Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 gồm 12 dự án thành phần, trong đó 8 dự án đã đưa vào khai thác. Bốn dự án còn lại đã thông xe kỹ thuật cuối năm 2025 nhưng chậm khai thác do vướng thủ tục nghiệm thu và hoàn thiện hạng mục phụ trợ.
Ông Minh cho biết các dự án này có điều kiện địa hình, địa chất phức tạp, đi qua khu vực nền đất yếu; từng chậm tiến độ do vướng giải phóng mặt bằng, cấp mỏ vật liệu. Ngoài ra, bão số 13 và ngập lụt diện rộng tại miền Trung năm 2025 cùng biến động giá nhiên liệu cũng ảnh hưởng đến tiến độ.
Bình quân 100 km có một trạm dừng nghỉ
Bà Phan Thị Thu Hiền, Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, cho biết toàn tuyến đang đầu tư 21 trạm dừng nghỉ, trong đó 16 trạm đã khai thác các công trình dịch vụ thiết yếu. Từ nay đến 30/4 sẽ có thêm một số trạm hoàn thành, cùng với 5 trạm cũ đang hoạt động.
Dự kiến toàn tuyến từ Lạng Sơn đến Cà Mau sẽ có 23 trạm dừng nghỉ, với cự ly trung bình khoảng 100 km một trạm, cơ bản đáp ứng nhu cầu của người tham gia giao thông.
Theo bà Hiền, tiến độ xây dựng trạm dừng nghỉ thời gian qua bị ảnh hưởng bởi biến động giá nhiên liệu. Cục Đường bộ Việt Nam đang phối hợp với các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ để hoàn thiện trong năm 2026.
Xem xét tăng trần giá vé máy bay nội địa
Về khả năng tăng trần giá vé máy bay nội địa khi giá nhiên liệu Jet A1 tăng, ông Đỗ Hồng Cẩm, Phó cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, cho biết cơ quan này đang đánh giá phương án do tác động trực tiếp đến người dân. Phương án phụ thu nhiên liệu cũng đang được nghiên cứu và sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền khi cần thiết.
Hiện nguồn cung nhiên liệu Jet A1 đã cải thiện, các đơn vị bảo đảm đủ nhiên liệu phục vụ nhu cầu đi lại dịp lễ 30/4. Các doanh nghiệp tiếp tục đàm phán, đa dạng hóa nguồn cung để đáp ứng cao điểm hè.